chuyên đề ẩm thực,nền ẩm thực Nhật Bản

Ẩm thực Nhật Bản là nền ẩm thực xuất xứ từ nước Nhật. Ẩm thực Nhật Bản không lạm dụng quá nhiều gia vị mà chú trọng làm nổi bật hương vị tươi ngon, tinh khiết tự nhiên của món ăn. Hương vị món ăn Nhật thường thanh tao, nhẹ nhàng và phù hợp với thiên nhiên từng mùa. Do vị trí địa lý bốn bề bao quanh đều là biển, hải sản và rong biển chiếm phần lớn trong khẩu phần ăn của người Nhật. Lương thực chính của người Nhật là gạo; người Nhật cuộn gạo trong những tấm rong biển xanh đen, tạo thành món sushi, được xem là quốc thực của Nhật Bản. Ngoài ra, các món ăn chế biến từ đậu nành cũng có tầm quan trọng đặc biệt trong ẩm thực Nhật. Về thức uống, người Nhật nổi tiếng với mạttrà, loại bột trà xanh nguyên chất do các thiền sư chế biến; đây là loại trà chính cho nghi lễ trà đạo, nghi lễ này tuân theo 4 nguyên tắc chính "hòa, kính, thanh, tịnh". Rượu gạo sakamai có nồng độ cao tên là sake, xuất phát từ các nghi lễ của thần đạo cũng rất phổ biến. Ngoài ra, các món ăn Nhật cũng thể hiện tư duy thẩm mĩ tinh tế và sự khéo léo của người nấu khi được bày biện với chỉ vài miếng ở một góc chén dĩa, để thực khách còn có thể thấy nét đẹp của vật dụng đựng món ăn.
-triết lý ẩm thực:
Các món ăn Nhật Bản đều tuân theo quy tắc tam ngũ: ngũ vị, ngũ sắc, ngũ pháp. Ngũ vị bao gồm: ngọt, chua, cay, đắng, mặn. Ngũ sắc có: trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Ngũ pháp là: sống, ninh, nướng, chiên và hấp. So với những nước khác, cách nấu nướng của người Nhật hầu như không sử dụng đến gia vị. Thay vào đó, người ta tập trung vào các hương vị tinh khiết của các thành phần món ăn: cá, rong biển, rau, gạo và đậu nành.
-ý nghĩa văn hóa:
Nhiều món ăn Nhật tượng trưng cho các lời chúc tốt lành gửi đến mọi người trong dịp năm mới: rượu sake để trừ tà khí và kéo dài tuổi thọ, món đậu phụ chúc mạnh khỏe, món trứng cá tuyết nướng chúc gia đình đông vui, món sushi cá tráp biển chúc sung túc thịnh vượng, món tempura chúc trường thọ. Tôm biểu trưng cho sự trường thọ, lưng tôm càng cong càng trường thọ.
tính thiên nhiên trong ẩm thực Nhật Bản:

  • Món cá tươi sống:Món cá sống lưu giữ trọn vẹn sự tươi ngon của hương vị thiên nhiên. Đó là những lát cá có chiều rộng khoảng 2.5 cm, chiều dài 4 cm và dày chừng 0.5 cm ăn cùng mù tạt, gừng, củ cải trắng, tảo biển cuộn tròn trong lá tía tô chấm trong nước tương ngọt Nhật Bản và tương ớt.
  • Món ăn theo mùa:Vào mùa xuân, để báo hiệu cho mùa đông lạnh giá đã kết thúc, người Nhật ăn món cá shirouo và đón mùa anh đào nở bằng bánh sakura mochi và gạo anh đào. Mùa hè, người Nhật ăn nhiều món ăn mát lành như món lươn, cà tím nướng, đậu edamame, các loại mì lạnh như: mì sợi mỏng somen, mỳ tôm lạnh, các món đậu hũ như: tào phớ Nhật Bản và khổ qua xào đậu hũ của vùng Okinawa. Tháng 5 là mùa cá ngừ, còn tháng 6 là mùa cá ayu. Mùa thu, người Nhật ăn khoai lang nướng, món lăn bột chiên tempura và loại bánh nama-gashi hình quả hồng chín hoặc hình bạch quả. Tháng 9 là tháng của mặt trăng nên những món hầm màu trắng được ưa chuộng như bào ngư, dưa chuột và măng. Để xua tan cái lạnh của mùa đông, người Nhật ăn lẩu, canh oden và món chè đậu đỏ ăn khi còn nóng shiruko. Ngoài ra, người Nhật còn ăn bánh higashi có hình tuyết. Vào mùa đông, người Nhật cũng chuộng ăn các loại quýt, tượng trưng cho mặt trời và dùng để làm quà năm mới.
  • món ăn này lễ:Bữa ăn ngày tết nguyên đán của Nhật được gọi là osechi,với món không thể thiếu là bánh giày ozoni
(trích nguồn wikipedia.org)

    -nét đẹp trong văn hóa ẩm thực Nhật Bản:

    Nếu nói đến nét đẹp trong văn hóa ẩm thực Nhật Bản, hẳn chúng ta không thể bỏ qua sushi, một món ăn kết hợp cơm với hải sản sống hoặc chín, sử dụng phương pháp bảo quản cá bắt nguồn từ Trung Hoa cổ. Do có nguồn hải sản phong phú, người Nhật thường sử dụng hải sản và thưởng thức cùng với các gia vị chế biến bổ trợ để tạo nên độ tươi, hương vị nguyên chất, và cảm nhận hết cái ngon của các loại hải sản giàu protein này. Sushi chính là một kiệt tác thành công trong cách chế biến ẩm thực của người Nhật Bản.

    Để làm đươc một đĩa sushi đúng vị và đúng nghĩa không phải là một điều dễ dàng, đòi khỏi rất nhiều khâu chế biến và sự tỉ mỉ của người thợ. Nước dùng để nấu cơm phải là nước tinh khiết để nấu được những hạt cơm dẻo, thơm, không bị nát, độ mềm vừa phải tạo sự kết dính. Hải sản phải tươi để có được độ ngậy và hương vị nguyên chất khi thưởng thức. Khi tiến hành công việc chế biến, để món ăn giữ được độ tinh khiết và vị ngon, các đầu bếp thường sử dụng các dụng cụ làm bằng gỗ bởi chất chua trong gạo khi trộn cơm với dấm sẽ phản ứng nếu như dùng bằng chất liệu bằng kim loại. Ngoài ra, họ còn sáng tạo trong cách trang trí tỉa hoa quả, nắm cơm theo hình thù nghệ thuật, kết hợp màu làm từ nguyên liệu tự nhiên để món ăn thêm màu sắc và đa dạng hương vị.


    Trong thực đơn sushi của người Nhật bản, có 6 loại cơ bản gồm Nigirizushi, Chirashizushi, Makimono, Gunkan, Oshizushi, và Temaki. Mỗi loại sushi đều mang mùi vị và đặc trưng của từng vùng, như sushi Nigirizushi là loại sushi chúng ta thường thấy: gồm một nắm trộn dấm, bên trên có đặt một miếng hải sản ăn kèm xì dầu, gừng tím muối chua.



    Makimono: thì gần giống như với cách làm của gimbap hàn quốc. Hải sản và các nguyên liệu củ quả sẽ được gói trong lớp rong biển rồi cắt thành từng khoanh nhỏ. Có một loại sushi đặc biệt mà mọi người ít thấy đó là Chirashizushi: được chế biến đặc biệt theo phong cách kiểu Tokyo và Osaka. thức ăn sẽ được xếp lên bề mặt một tô cơm trộn giấm. Nhưng đặc biệt nhất vẫn là Temaki: gồm một lớp rong biển sẽ được nướng sơ qua, rải đều cơm trộn dấm và các loại hải sản, rau củ quả vào giữa rồi nặn theo hình nón.

    (trích nguồn toho.edu.vn)
    cùng tìm hiểu về món ngon chinh phục cả thế giới - Tempura

    Tempura là món ăn thứ hai của Nhật Bản được cả thế giới biết đến sau Sushi, nhưng đây lại là món ăn có xuất xứ từ châu Âu. Tempura được du nhập vào Nhật Bản từ thời kỳ Edo, được những người truyền giáo Bồ Đào Nha đem đến. Sau một thời gian du nhập vào Nhật Bản, Tempura đã được cải biến lại cho phù hợp với khẩu vị của người Nhật. Vào cuối thế kỉ thứ 19 Tempura đã trở thành món ăn phổ biến tại Tokyo và được bán tại các quầy hàng ở ven đường.
    Với bản tính sáng tạo và ưa thích sự hoàn mỹ, người Nhật đã cải biến Tempura theo nhiều cách khác nhau và trang trí cũng đẹp hơn. Ngày nay, Tempura không còn là một món ăn du nhập từ nước ngoài nữa mà nó đã trở thành món ăn đặc trưng của nền văn hóa ẩm thực Nhật Bản.
    Tempura gồm các loại hải sản, phổ biến nhất là tôm, mực, cá, một số loại rau củ như bí ngô, cà tím dài, khoai lang, lá tía tô, ớt ngọt, đỗ ván, nấm tươi…Điều làm nên sự khác biệt giữa Tempura với các món có tẩm bột rán như Furai, Kara age chính là cách chế biến bột Tempura và phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề kỹ thuật của người đầu bếp. Dầu để rán là dầu thực vật tinh khiết cao cấp, được để ở nhiệt độ phù hợp mới có thể tạo nên được những miếng đạt tiêu chuẩn Nhật. Nước chấm Tempura được pha chế từ rượu Sake, rượu ngọt, mirin và Dashi, thưởng thức cùng gừng tươi và củ cải mài. Tempura được dùng khi uống bia, rượu Sake, ăn với cơm hoặc với mì soba.

    hay wasaghi-tinh hoa ẩm thực Nhật Bản:

    Wagashi là tên gọi chung của các món bánh truyền thống của Nhật Bản từ lâu đời, được làm từ bột nếp, nhân đậu và hoa quả, được trình bày đẹp mắt, dùng trong các tiệc trà đạo, tên gọi Wagashi có nghĩa là Vẻ đẹp tự nhiên. Xa xưa,wagashi được dùng để cúng tế các vị thần. Từ triều đại Edo thế kỷ 16 chúng được đưa vào các lễ trà đạo. Vị ngọt nhẹ nhàng của wagashi sẽ làm giảm vị chát của trà xanh. Vì thế người ta luôn dọn vào bữa trà, dùng với một cây xiên nhỏ.Wagashi cũng là biểu tượng của sự hiếu khách, người ta thường tặng nó trong các buổi lễ cưới, lễ sinh nhật…

    Wagashi tượng trưng cho sự hài hòa với thiên nhiên. Người làm wagashi luôn lấy cảm hứng từ thiên nhiên bốn mùa của trời đất, từ văn chương, nghệ thuật, thơ ca. 
    Tùy theo mỗi mùa, những nghệ nhân làm wasaghi sẽ dùng những lọai nguyên liệu của từng mùa để cho ra đời những chiếc bánh Wagashi… độc đáo, như bánh Sakura Mochi và bánh Kashiwa Mochi chỉ có vào mùa xuân.


    cùng điểm qua 10 món ăn tiêu biểu của ẩm thực Nhật Bản:
    sukiyaki:món ăn được chuẩn bị ngay tại bàn bằng cách nấu thịt bò xát lát mỏng cùng với nhiều loại.
    tempura:món ẩm thực có thành phần là tôm, cá theo mùa và rau củ được phủ với hỗn hợp của trứng ,nước và bột mì rồi đem chiên ngập trong dầu ăn
     
    sushi:Là một khoanh nhỏ gồm hải sản sống đặt trên một lớp cơm tráng đã được trộn với dấm. Thành phần phổ biến nhất là cá ngừ, mực và tôm dùng kèm với dưa leo, củ cải muối và trứng ngọt tráng mỏng. 
    sashimi:Là một khoanh nhỏ gồm hải sản sống đặt trên một lớp cơm tráng đã được trộn với dấm. Thành phần phổ biến nhất là cá ngừ, mực và tôm dùng kèm với dưa leo, củ cải muối và trứng ngọt tráng mỏng. 
    kaiseki ryori: Đây là món được coi là ẩm thực tinh túy nhất tại Nhật Bản. Các món ăn sử dụng nguyên liệu theo mùa chủ yếu gồm rau, cá với rong biển và nấm và có hương vị tinh tế đặc trưng.
    yakitori:Món ăn được tạo thành từ những miếng nhỏ của thịt gà, gan và rau quả xiên que trên một thanh tre và nướng trên than nóng. 
    tonkatsu:là thịt cốt lết heo tẩm vụn bánh mì chiên xù:

     
     shabu-shabu:Là những lát thịt bò mềm mỏng được dùng đũa để nhúng trong một nồi nước sôi và sau đó nhúng vào nước sốt trước khi ăn.
    soba và udon:Hai loại mì Nhật. Soba được làm từ bột lúa mạch và Udon được làm từ bột lúa mì. Món này được dùng với nước hẩm thịt hoặc nước sốt và có hàng trăm vị súp khác nhau. 
    sake:Loại rượu gạo của người Nhật thường được dùng chung với một loạt các món ăn. Sake được chế biến từ gạo và nước và được xem là đồ uống có cồn từ thời cổ đại. Vì rượu có thể uống nóng nên “cảm xúc” đến nhanh hơn và làm ấm cơ thể vào mùa đông. Khi uống rượu ướp lạnh cũng sẽ có một hương vị tương tự như rượu vang chất lượng cao. Mỗi vùng miền trên khắp đất nước đều có nhà máy rượu địa phương mang hương vị đặc trưng riêng tùy vào chất lượng gạo và nước cũng như sự khác biệt trong quá trình sản xuất rượu. 


    (trích nguồn thanglongtour.com)
    Bên cạnh những món ăn ngon của Nhật Bản thì không thiếu những món ăn của Nhật được xem là kì lạ:
    shirako:Đây là món ăn được chế biến từ cơ quan sinh dục của loài cá. Shirako là món ăn rất phổ biến tại hầu hết các quán rượu và các quán sushi ở Nhật.
    inago no tsukudami (món ăn từ châu chấu):Inago no Tsukudani là một trong những món ăn truyền thống từ côn trùng của người Nhật Bản. Món ăn này rất phổ biến với cư dân ở các vùng nông thôn của tỉnh Yamagata, tỉnh Nagano và quận Gunma (thuộc đảo Honshu).

    “Inago” trong tiếng Nhật có nghĩa là châu chấu. Chỉ cần hầm châu chấu với tsukudani (một loại gia vị Nhật Bản thường được làm bằng cỏ biển đã được nấu nhừ trong nước tương, sake nấu và mirin) là đã có được món Inago no Tsukudani ngon lành.
    basashi (thịt ngựa sống):
    Vì thịt ngựa sống có màu đỏ nên người Nhật vẫn gọi món ăn này là “sakura” hoặc “sakuraniku”. “Sakura” có nghĩa là hoa anh đào, còn “niku” có nghĩa đơn giản là “thịt”.
    Khi thịt ngựa được thái thành những lát mỏng người Nhật gọi đó là “basashi”. Nhiều quận huyện thuộc các tỉnh Kumamoto, Nagano hay Oita nổi tiếng với basashi và đây cũng là một đặc sản của vùng Tohoku nước Nhật.
     một món trang miệng quen thuộc và hấp dẫn được làm từ thịt ngựa.
    natto (đậu nành lên men) 

    Natto là món rất nặng mùi, hương vị nặng và được làm từ đậu nành lên men. Natto được người Nhật Bản dùng phổ biến trong các bữa sáng.
    fugu (cá độc):Fugu trong tiếng Nhật được gọi cho một món ăn làm từ cá độc, tiêu biểu là loài cá nóc. Các ký tự chữ Hán được dùng để viết “fugu” được dịch với nghĩa đen là “dòng sông bẩn”.
    Thịt cá nóc ăn được. Tuy nhiên da, gan và buồng trứng của loài cá này lại chứa một lượng gây chết người của chất độc tetrododoxin. Nếu ăn phải một trong những thành phần này, chất độc sẽ làm tê liệt các cơ bắp trong khi nạn nhân vẫn rất tỉnh táo. Cuối cùng, người nhiễm độc cá nóc sẽ chết vì ngạt thở.
    Những nhà hàng ở Nhật chỉ có thể chế biến và phục vụ Fugu khi đảm bảo được chất lượng đầu bếp. Đầu bếp chế biến fugu phải đảm bảo những điều kiện cơ bản. Họ phải qua một quá trình học tập, kinh nghiệm thực tập ít nhất từ 2 đến 3 năm và cũng phải trải qua những kỳ thi Quốc gia ở Nhật Bản.
    hachinoko (ấu trùng ong):
    Một trong những món ăn ưa thích của vị thiên hoàng Hirohito là ong bắp cày nấu với gạo, đường và nước tương. Đây là món ăn giàu protein khá quen thuộc ở Nhật.
    zazamushi (côn trùng thủy sinh):Zazamushi khá phổ biến ở Nhật Bản cả trong việc đóng hộp và chế biến món ăn tại các nhà hàng. Zazamushi không phải được gọi cho một loại côn trùng duy nhất, mà được gọi chung cho những côn trùng thủy sinh sống ở các bờ sỏi cát ven sông.
    thịt cá voi:Bằng chứng khoa học từ Chương trình nghiên cứu cá voi của Nhật cho thấy rằng, cá voi được tiêu thụ trên toàn nước Nhật Bản, phổ biến nhất là một loại bánh mì kẹp (whaleburger) có nhân là thịt cá voi.

    shiokara:(hải sản lên men)
    Shiokara là món hải sản lên men của người Nhật. Shiokara có thể được chế biến từ nhiều loại cá kết hợp với muối.
    shirouo no odorigui:Shirouo là những chú cá rất nhỏ, trong suốt và được ăn sống. Điều thú vị của món ăn này là cảm nhận những chú cá nhảy múa trong miệng khi ăn.


    Đăng nhận xét

    [blogger]

    Author Name

    Biểu mẫu liên hệ

    Tên

    Email *

    Thông báo *

    Được tạo bởi Blogger.