10 tài liệu địa chí tỉnh Hòa Bình:


1.Mo Mường:
 Cuốn sách Mo Mường Hòa Bình do UBND tỉnh ấn hành có dung lượng 1.520 trang in trên khổ giấy 19 x 27 cm, giấy in bóng, đẹp. Căn cứ theo nội dung từng đọn mo, từng thể loại mo, Ban biên tập đã chia thành 140 cát (các chương, phần). Mo dài, ngắn có nội dung khác nhau và phân chia thành 4 thể loại mo chính là: mo kể chuyện, mo hòm, mo cuối lìa và mo nghi lễ và được chia làm 2 phần: phần ghi âm tiếng Mường và phần dịch sang tiếng phổ thông. Toàn bộ tư liệu chủ yếu lấy trong đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu, sưu tầm Mo Mường ở Mường Bi, Tân Lạc, Hòa Bình” được ghi băng, ghi hình trong tiến trình phục dựng 12 đêm mo tang lễ tại Mường Bi (Tân Lạc) nên nói cuốn sách này có nội dung Mo Mường Bi cũng không sai. 

 Thoạt đầu, khi đọc qua bản Mo Mường Bi, một số vị trong ban soạn thảo băn khoăn thấy các cái mo sao ngắn, giản đơn về cấu trúc, ngôn ngữ khá khu biệt địa phương. Ban đầu cũng có ngộ nhận bản mo này không đầy đủ, thiếu nhiều các chi tiết, không hay như mo ở các mường khác.  Càng về sau, đọc kỹ và trong quá trình soạn thảo, biên tập thấy sáng tỏ nhiều vấn đề Mo Mường Bi có nhiều điểm rất đặc sắc. Trong bài viết ngắn và trong điều kiện chưa có thời ...

2.Đất Mường:
Ðến với Hoà Bình là đến với những dòng chảy văn hoá độc đáo khêu gợi bao khát khao tìm kiếm trong các áng trường ca ðổ sộ nhý Ðẻ đất, đẻ nước; trong các chuyện tình lãng mạn bi thương như út Lót - Hồ Liêu, Nàng Nga hai mối; trong những âm hưởng hào hùng của trống đồng, của các phường xắc bùa của những dàn cổng chiêng hàng trăm chiếc... hay chỉ trong một thoáng mờ ảo mong manh mẽ hổ như làn sóng, sớm của cánh bông...



3.Ẩm Ệt-sử thi dân tộc Thái Mai Châu:
 Nếu phân loại các vùng văn hóa thì Mường Mùn (Tức huyện Mai Châu - Hòa Bình) chính là một tiểu vùng nằm trong vùng văn hóa lớn Tây Bắc. Tiểu vùng văn hóa Mường Mùn có những đặc điểm chung cơ bản của vùng, đồng thời cũng nổi lên bản sắc riêng của mình.

4.Đôi nghĩa quân Đốc Ngữ trên sông Đà: 
--- không rõ tác giả ---



Trong những năm từ 1886 đến 1892, người Mường dưới sự lãnh đạo của Đốc Ngữ đã nổi dậy chống xâm lược Pháp trên suốt dải ven sông Đà. Nghĩa quân sông Đà di chuyển nhanh, tấn công thần tốc, đã thắng những trận vang dội ở chợ Bờ và Yên Lãng (Hòa Bình).

Tiếp nối và phát huy cao hơn nữa truyền thống đoàn kết, yêu nước chống xâm lăng của các dân tộc miền núi, đồng bào Mường đã sôi nổi vùng dậy tìm mọi cách chặn bước tiến của thực dân Pháp ngay từ buổi đầu khi chúng tìm cách tiến sâu lên vùng rừng núi, suốt trong những năm từ 1886 đến 1892, dưới sự chỉ huy của Đốc Ngữ, đồng bào Mường yêu nước, yêu bản mường đã hoạt động mạnh mẽ trên khắp vùng lưu vực sông Đà, giáng cho địch nhiều đòn sấm sét khiến chúng bạt vía, kinh hồn.

Tháng 4-1884, quân Pháp chiếm thành Hưng Hóa. Ngay lúc đó, Đốc Ngữ (chính tên là Nguyễn Đức Ngữ) đã tập hợp một số nghĩa quân nổi dậy, hoạt động mạnh mẽ suốt một dải ven sông Đà thuộc các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ. Từ đó nghĩa quân thường tấn công vào các đồn lẻ hay chặn đánh các đoàn xe vận tải của giặc trên lưu vực sông Đà.

Đến đầu năm 1891, đội nghĩ quân sông Đà đã có thanh thế lớn và có đủ lực lượng để đánh những trận lớn. Chiến công oanh liệt nhất là trận tập kích vào Chợ Bờ, tỉnh lỵ cũ của Hòa Bình, nơi giặc Pháp phòng giữ khá vững chắc.

Đêm 29 rạng 30-1-1891. Trong bóng đêm dày đặc, Đốc Ngữ dẫn 500 nghĩa quân kéo tới vây kín vị trí địch, nổ súng, tuốt gươm, cắp giáo xông vào đồn địch. Bị đánh bất ngờ, thực dân Pháp không sao đối phó kịp. Tên công sứ và hai tên Pháp khác giúp việc y bị đền tội. Viên chỉ huy Pháp và tên chủ sở Bưu điện hốt hoảng nhảy xuống thuyền bị dòng thác cuốn đi. Sau khi thu toàn bộ vũ khí trong đồn, nghĩa quân bí mật rút lui.

Cuộc đánh úp Chợ Bờ của nghĩa quân làm cho thực dân Pháp và tay sai vô cùng hoảng sợ. Chúng liên tiếp huy động nhiều đội quân với súng ống đầy đủ ngày đêm sục sạo, càn quét khắp vùng rừng núi. Nhưng chúng đã tốn công vô ích! Được núi rừng che chở và nhất là được đồng bào trong vùng yêu mến, làm vườn không nhà trống khiến giặc không có chỗ ăn chỗ ở, nghĩa quân sông Đà vừa tránh khỏi mọi sự truy lùng của địch, vừa lợi dụng chỗ sơ hở của chúng để phục kích tiêu hao chúng. Chính trong thời gian này nghĩa quân lại đánh một trận lớn thứ hai rất gan dạ và tài tình. Lần này nghĩa quân tấn công đồn Yên Lãng vùng Chợ Bờ.

Giữa ban ngày, người ta thấy một toán lái buôn và dân cày gánh kĩu kịt trứng gà và chuối tiêu vào biếu chủ đồn Yên Lãng. Lính canh để họ vào. Viên chủ đồn cười híp mắt trước món đồ biếu béo bở. Đột nhiên toán lái buôn và dân cày này - chính là nghĩa quân sông Đà cải trang - rút súng nổ vào đầu bọn giặc, tiêu diệt gần hết lính Pháp trong đồn, thu toàn bộ vũ khí và lương thực.

Ảnh hưởng của nghĩa quân ngày càng lan rộng. Một đội quân lớn của giặc ra sức tìm tòi dấu vết nghĩa quân. Nhưng cũng như lần trước, chúng đã tốn công vô ích. Nghĩa quân di chuyển nhanh chóng trên một địa bàn rộng đã tránh thoát mọi cuộc truy kích, càn quét của địch. Không những thế, cuối tháng 4-1892, lợi dụng chỗ sơ hở của địch, Đốc Ngữ còn cho quân vượt qua sông Mã quanh năm nước chảy cuồn cuộn như ngựa phi, tiến sâu vào đất Thanh Hóa, phối hợp chiến đấu với nghĩa quân của Tống Duy Tân và Cao Điền. Tại đây hai đội nghĩa quân đã giáng cho giặc Pháp một đòn nặng tại Niên Kỷ. Sau đó, tranh thủ lúc quân giặc còn bàng hoàng về trận thất bại mới, Đốc Ngữ lại quay trở về vùng tả ngạn sông Mã, rồi lại vượt qua sông Đà, lập căn cứ mới.

Giặc Pháp xảo quyệt dùng thủ đoạn chia rẽ nghĩa quân, chia rẽ dân tộc, chia rẽ miền xuôi, miền núi. Chúng mua chuộc, lung lạc một số người nhẹ dạ, khủng bố, hăm dọa nhân dân địa phương. Tháng 8-1892, chủ tướng Đốc Ngữ bị sát hại. Đội nghĩa quân sông Đà tan rã. Nhưng sau đó đồng bào Mường vẫn không ngừng chiến đấu chống thực dân Pháp, góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của toàn thể dân tộc Việt Nam.
5.những sự kiện tiêu biểu trong lịch sử 130 năm của tỉnh Hòa Bình (phần 1):
 HÒA BÌNH NHỮNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP
Cuối thế kỷ XIX, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến theo một hình thái mới. Các cuộc xâm lăng phong kiến đã dần bị thay thế bằng chủ nghĩa thực dân xâm lược mà quân xâm lược đó thường là đội quân viễn chinh. Nước đô hộ thuộc các chủng tộc khác màu da và họ là đại diện cho các nhà nước Tư bản thay thế cho các nhà nước phong kiến. Nơi đến xâm lăng của họ thường là những vùng đất nghèo nàn, lạc hậu so với sự phát triển vào thời kỳ công nghiệp và nền kinh tế thị trường của họ. Chính vì vậy họ thường lợi dụng sự yếu hèn của tầng lớp phong kiến bản địa và núp dưới chiêu bài văn minh khai hoá cho người bản xứ. Trong bối cảnh đó, Việt Nam khó tránh khỏi trở thành nơi cho chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược. Tỉnh Hoà Bình được thành lập từ sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta thực hiện chính sách chia để trị. Ngày 22-6-1886, Quyền kinh lược Bắc Kỳ ký nghị định thành lập tỉnh mới gọi là tỉnh Mường. Cắt đất đai có đông đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hoá, Sơn Tây, Hà Nội, Ninh Bình. Tỉnh lỵ đặt tại chợ Bờ. Từ đó đến năm 1896, về tổ chức và địa giới hành chính tỉnh Mường có thay đổi, tỉnh lỵ chuyển về xã Hoà Bình tả ngạn sông Đà, từ đây tỉnh Mường được gọi là tỉnh Hoà Bình.
Trong thời gian này, nhân dân ta phải sống trong cảnh nô lệ của hai tầng xiềng xích thực dân, phong kiến. Các cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc không ngừng nổ ra, và đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc trong đó có tỉnh Hoà Bình lại một lần nữa phải đương đầu với kẻ thù xâm lược và sự áp bức bóc lột. Phong trào Cần Vương đã dấy lên mạnh mẽ trong vùng đồng bào Mường ở Hoà Bình, Ninh Bình. Vùng núi của Hoà Bình từ Lương Sơn, đến Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Kỳ Sơn, Đà Bắc, Mai Châu và dải sông Đà trở thành căn cứ hoạt động của Đốc Tam, Đinh Công Uy, nhiều trận đánh diễn ra ở vùng chợ Bờ, Phương Lâm, Mông Hoá, Dốc Kẽm, gây cho địch tổn thất nặng nề, điển hình là trận đánh vào thị xã Bờ ngày 30-01-1891 giết tên Ru-giơ-ri ( Rougery) công sứ người Pháp; trận Chợ Đập ở Lạc Thuỷ giết tên quan hai Phô-gie (Fau-gi-re). Trong khoảng thời gian này, nổi lên là cuộc khởi nghĩa của Đốc Ngữ , Đốc Tâm mà nhân dân ta thành kính gọi là nghĩa quân sông Đà. Năm 1886, nghĩa quân phục kích địch ở Nho Quan, Ninh Bình tiêu diệt nhiều sỹ quan, binh lính Pháp, năm 1891, nghĩa quân sông Đà của Đốc Ngữ đánh úp thị xã tỉnh lộ chợ Bờ, tiếp đó năm 1892, tập kích đồn Yên Lãng trên phòng tuyến sông Đà của địch. Thực dân Pháp coi nghĩa quân sông Đà là lực lượng khởi nghĩa hùng hậu nhất chưa từng có ở xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ. Năm 1889 – 1890, vùng đồng bào Mường Hoà Bình nổ ra phong trào chống Pháp phối hợp với nghĩa quân sông Đà của Tổng Khiêm và Đinh Công Uy đều là những chỉ huy người Mường ở địa phương. Cuộc nổi dậy khởi nghĩa của Tổng Khiêm đã giết chết tên giám binh Senhô và nhiều binh lính Pháp, phục kích địch trong nhiều trận liên tiếp, đe doạ và làm hao tổn đội quân đồn trú ở vùng cửa ngõ Tây Bắc đầu thế kỷ thứ XX, những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của đồng bào các dân tộc Hoà Bình do Tổng Kiêm và Đốc Bang ( Kỳ Sơn ) chỉ huy tiến đánh thị xã Hoà Bình ngày 02-08-1909 giết tên giám binh Se-Nho ( Chai-gue- au) giải thoát cho nhiều người bị chúng giam cầm. Và truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất chống quân xâm lược của nhân dân các dân tộc Hoà Bình lại được nhân lên gấp bội.
Tuy các cuộc khởi nghĩa không thể kéo dài , sớm bị kẻ thù dập tắt nhưng đã hun đúc ý chí yêu nước quật khởi và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc vùng Tây Bắc nói chung và trong tỉnh Hoà Bình nói riêng. Đồng thời nó báo hiệu những đòi hỏi của một thời kỳ cách mạng mới, những giá trị mới của độc lập dân tộc phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế.  Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã nhanh chóng tập hợp lực lượng, xây dựng phong trào cách mạng ở vùng dân tộc ít người trong đó có Hoà Bình. Hoà Bình là một tỉnh có nhiều dân tộc, nhưng đông nhất là người Mường chiếm tới 80% dân số toàn tỉnh, trước cách mạng tháng tám năm 1945, người Mường sống trong chế độ Lang đạo có sự phân chia đẳng cấp sâu sắc, chế độ Lang đạo là đặc trưng quá trình phát triển của xã hội người Mường, là một chế độ bóc lột hà khắc cực kỳ bảo thủ, phản động. Lang có uy thế chính trị, kinh tế lớn là Lang Cun thuộc các dòng họ Đinh – Quách ở 4 vùng: Bi – Tân Lạc; Vang – Lạc Sơn; Thàng – Kỳ Sơn; Động – Lương Sơn và Kim Bôi). Dưới chế độ nhà Lang quyền sống của người dân Mường bị chà đạp, ngay đến tính mạng cũng do Lang định đoạt, lang cho sống được sống, bảo chết phải chết, nên người Mường xưa có câu: “ Nhỏ là con Bố con Mế, lớn là con Cun con Lang”. Trong lịch sử lâu dài người dân Mường thấy được mặt áp bức bóc lột tàn bạo của lang, và có lúc có nơi đã nổi lên chống lại lang đạo. Song trong tiềm thức của người dân khi chưa được giác ngộ họ còn coi lang như một thần tượng, tượng trưng cho một sức mạnh quyền lực của họ, nhất là khi phải đấu tranh với các thế lực bên ngoài để bảo vệ bản làng nơi họ sinh sống. Đáng chú ý là chế độ lang tồn tại hàng ngàn năm có tính lãnh địa cắt cứ (tương đối) trong lòng Nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam. Vì vậy, những gì động chạm đến đặc quyền có tính chất cắt cứ của họ đều gây nên nỗi bất bình chống đối của lang đạo. Lợi dụng những đặc điểm ấy, thực dân Pháp đã khoét sâu vấn đề dân tộc, triệt để sử dụng duy trì chế độ lang đạo ở Hoà Bình. Thực hiện chính sách chia để trị “ dùng thổ lang để trị thổ dân”, không những dùng quân sự mà chúng còn tăng cường các thủ đoạn chính trị, tuyên truyền, kích động chia rẽ, gây hằn thù dân tộc để dễ bề cai trị. Thực dân Pháp lợi dụng bọn phản động, tay sai lập ra xứ Mường, xứ Thái tự trị theo chiêu bài giả hiệu. Chúng xây dựng những đội quân riêng người Thái, riêng người Mường, đầu độc họ bằng ý thức dân tộc hẹp hòi, biến họ thành công cụ chống cách mạng, chống các dân tộc anh em, gây hận thù, nhen nhóm ngọn lửa chiến tranh giữa các dân tộc để chúng dễ bề lợi dụng, khống chế, đàn áp. Thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai và bọn phản động xuyên tạc đường lối kháng chiến kiến quốc của ta, dùng chiêu bài xây dựng xứ rừng xanh tự trị là thành viên của liên bang Đông Dương trong khối liên hiệp Pháp – Việt. Chúng ra sức nắm số lang đạo có tên tuổi có thế lực trong vùng, ngày 23-06-1892 thành lập hội đồng quan Lang gồm 12 thành viên để điều hành công việc do Pháp chỉ đạo bằng chính sách mỵ dân tạo nên những ngọn cờ giả hiệu chống phá phong trào cách mạng, chúng còn bảo hộ tăng thêm quyền lực biến lang đạo thành tay sai đắc lực phục vụ cho âm mưu lâu dài của thực dân Pháp. Trước tình hình đó, Đảng Cộng Sản nhanh chóng tập hợp lực lượng nhằm phát triển sâu rộng trong cả nước
Tại Bắc Kỳ, ngày 17-6-1929, Đông dương cộng sản Đảng thành lập. Sau đó những người thanh niên cách mạng còn lại ở Nam Kỳ đã thành lập An nam cộng sản Đảng. Trước xu thế thành lập Đảng cộng sản như trên, một số người thuộc phái cấp tiến trong tổ chức Tân Việt cách mạng Đảng, một số tổ chức yêu nước có xu hướng cộng sản cũng tách ra thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn ( 10-1929 ). Ánh sáng cách mạng vô sản đượ truyền tới Hoà Bình trong bối cảnh như trên.  Đầu tháng 8-1929, đồng chí Đào Gia Lựu bị thực dân Pháp nghi ngờ là hoạt động cộng sản và điều lên dạy học tại miền núi thuộc châu Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Nhân việc đó, Tỉnh uỷ Đông Dương cộng sản Đảng Nam Định giao cho đồng chí nhiệm vụ tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, gây dựng cơ sở cách mạng ở địa bàn miền núi tỉnh Hoà Bình. Nhưng đến cuối năm 1929, đồng chí Đào Gia Lựu bị bắt, nên mầm cách mạng vừa gieo ở Lạc Sơn không phát triển được. 

 HÒA BÌNH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP ( 1930-1945 ):
Ngày 3-02-1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng thổi bùng lên phong trào đấu tranh cách mạng trong những năm 1930-1931, điển hình là phong trào Xô Viết-Nghệ Tĩnh. Thực hiện chủ trương phát triển cơ sở  cách mạng, chi bộ Đảng ở Thanh Khê – Trung Trữ ( huyện Gia Khánh – tỉnh Ninh Bình ) đã phân công đồng chí Hoàng Trường một đảng viên của chi bộ lên hoạt động gây cơ sở tại làng Hoàng Đồng ( xã Khoan Dụ ngày nay ) châu Lạc Thuỷ. Dựa vào mối quan hệ quen biết đồng chí đã bắt mối tuyên truyền , khêu gợi lòng yêu nước, căm thù thực dân Pháp xâm lược ở những thanh niên có học thức, có tinh thần yêu nước. Ngày 01-12-1930, tổ đảng Hoàng Đồng ( thuộc chi bộ Thanh Khê – Trung Trữ ) được thành lập gồm 5 thành viên, tích cực hoạt động cách mạng, gây ảnh hưởng sâu rộng trong lòng quần chúng nhân dân.
            1929-1939 là chặng đường có vị trí mở đầu mang nhiều ý nghĩa trên tiến trình lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc Hoà Bình dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. Trên chặng đường lịch sử này, những đốm lửa cách mạng bắt đầu được nhen lên ở nhiều điểm: Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, thị xã Hoà Bình, đáng chú ý là mầm cách mạng ở lạc sơn, cơ sở cách mạng ở Lạc thuỷ đã ra đời từ những năm 1929-1930 trong thời điểm Đảng cộng sản Việt Nam ra đời mở ra bước ngoặt lịch sử của phong trào cách mạng Việt Nam. Cơ sở cách mạng được hình thành ngay tại Phương Lâm – thị xã Hoà Bình, nơi trung tâm chính trị xã hội của tỉnh, nơi sào huyệt của bộ máy thống trị thực dân đặt tại địa phương.
            Năm 1940-1941, các chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên được ra đời tại vùng có đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Yên Bái, Thanh Hoá - đó là bước ngoặt trong lịch sử các dân tộc thiểu số, thổi luồng gió mới vào truyền thống đoàn kết yêu nước đấu tranh giành tự do, độc lập. Vào những năm bốn mươi, nhà tù Sơn La là nơi thực dân Pháp giam cầm, đầy ải các chiến sỹ Cách mạng, với sự ra đời và hoạt động của chi bộ Đảng và các cuộc tuyên truyền vận động của tù nhân cán bộ Cách mạng vượt ngục, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số vùng Sơn La, Hoà Bình được giác ngộ thành hạt giống đỏ của Cách mạng. Được sự giúp đỡ của Đảng bộ Hà Đông, Ninh Bình, Hà Nam, phong trào cách mạng ở Hoà Bình đã phát triển nhanh chóng từ đầu năm 1943 đến giữa năm 1944, các đội cứu quốc lần lượt thành lập, năm 1943, tổ cứu quốc xã Nật Sơn, tổ cứu quốc Vụ Bản ( Lạc Sơn), tổ cứu quốc phố Vãng ( Mai Đà), tổ cứu quốc Phương Lâm ( thị xã Hoà Bình), và Nhuận Trạch ( Lương Sơn) là những địa bàn có vị trí trọng yếu, trung tâm chính trị, đầu mối giao lưu kinh tế, xã hội trong tỉnh hoặc một vùng. Trong thời gian này, trung ương đã bổ sung cán bộ cho Hoà Bình đồng chí Vũ Đình Bản và đồng chí Vũ Thơ ( Vũ Kỳ Châu) để lãnh đạo phong trào cách mạng, các đồng chí thống nhất phương hướng củng cố, mở rộng phong trào, đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh của quần chúng lên một bước cao hơn, thường xuyên liên lạc với chi bộ nhà tù chính trị ở thị xã Hoà Bình để phối hợp hoạt động. Chỉ trong vòng hơn một năm phong trào cách mạng ở Hoà Bình đã phát triển mạnh, xây dựng thế đứng vững chắc ở thị xã và một số thị trấn trung tâm về đầu mối chính trị – kinh tế - xã hội trong tỉnh. Vào cuối năm 1944, không khí cách mạng sục sôi trong cả nước, thôi thúc tinh thần cách mạng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Những cuộc đấu tranh của nhân dân và các tổ chức quần chúng liên tiếp nổ ra: cuộc đấu tranh của chị em làm xáo buôn bán gạo ở chợ Phương Lâm đòi giảm thuế chợ; cuộc đấu tranh của vợ con binh lính trong hàng ngũ địch đòi huởng chế độ cung cấp lương thực… Cùng với những cuộc đấu tranh trên , quần chúng còn hăng hái hỗ trợ các chiến sĩ bị giam giữ trong nhà tù chính trị ở thị xã Hoà Bình, khi cuộc tuyệt thực nổ ra, cán bộ, quần chúng ở thị xã ra sức tiếp tế cho anh em trong tù đấu tranh bền bỉ, cuộc đấu tranh diễn ra một tuần với tinh thần cương quyết phối hợp giữa trong và ngoài đã giành thắng lợi. Phong trào đấu tranh kinh tế, chính trị sôi động trong những tháng nửa cuối năm 1944 là một bước tập dượt quan trọng có ảnh hưởng sâu rộng, tạo đà cho phong trào cách mạng ở thị xã và toàn tỉnh tiếp tục tiến lên. Mặt trận Việt Minh thị xã chính thức được thành lập tháng 10-1944, do anh Trần Nghìn làm chủ nhiệm.
              Ngày 22-12-1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời, hoạt động ở căn cứ địa Việt Bắc và tiến xuống phía nam qua Hoà Bình, việc xây dựng cơ sở lực lượng tại Hoà Bình trở thành cấp thiết nhằm đẩymạnh phong trào ở địa phương. Cuốitháng 01-1945, thành lập ban cán sự tỉnh Hoà Bình do đồng chí Vũ Thơ làm bí thư. Sau đó thành lập chiến khu Hoà Ninh Thanh gồm: Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá. Các đội tự vệ cứu quốc lần lượt ra đời ở Hiền Lương, Tu Lý ( Mai Đà ), thị trấn Vụ Bản, Mường Khói, Ân Nghĩa ( Lạc Sơn).đồng thời xúc tiến mở lớp huấn luyện quân sự tại xóm Giằng Xèo hơn 10 đội tự vệ cứu quốc bí mật về dự huấn luyện. Đến trước 9-3-1945, phong trào cách mạng ở Hoà Bình đã tạo được thế phát triển vững ở nhiều vùng, nhiều địa bàn quan trọng từ thị xã đến các vùng nông thôn. Nhưng so với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, nhất là yêu cầu xây dựng chiến khu thì ngoài thị xã là vững mạnh, còn các nơi khác lực lượng chính trị, lực lượng bán vũ trang còn rất mỏng, chưa qua rèn luyện, tập dượt trong đấu tranh. Một khó khăn khác là địa bàn miền núi, nhiều dân tộc song lực lượng cán bộ còn quá ít. Đội ngũ cán bộ cơ sở cũng còn rất mỏng, đang trong quá trình bồi dưỡng, đào tạo. Mặc dù còn không ít khó khăn, hạn chế song về cơ bản phong trào cách mạng ở Hoà Bình đang trong thế phát triển, hoà nhịp cùng phong trào chung tiến tới cao trào cách mạng trong thời gian tới.
             Đêm 09-03-1945, Nhật đảo chính hất cẳng thực dân Pháp độc chiếm Đông Dương. Tại Hoà Bình, đêm 11 và ngày 12/3/1945, một đơn vị phát xít Nhật đánh chiếm thị xã gần như không gặp một trở ngại nào. Một vài ngày sau Nhật điều thêm 500 quân lên Hoà Bình đưa tổng số quân Nhật lên một trung đoàn do tên quan năm chỉ huy. Sau cuộc đảo chính hất cẳng thực dân Pháp, phát xít Nhật dựng lên chính phủ bù nhìn do Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Tại Hoà Bình, chúng tổ chức gặp mặt bọn quan lại cũ và một số nhà lang gọi là: “ Hội nghị hiệp thương” để lập chính quyền củng cố bộ máy thống trị của chúng. Đêm 9-3-1945 đến 12-3-1945, ban thường vụ TW Đảng họp và ra chỉ thị “ Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và đề ra khẩu hiệu: “ Đánh đuổi phát xít Nhật”. Lúc này phong trào cách mạng ở Hoà Bình đã tạo được một bước chuyển biến. Ban cán sự Đảng đã xác định: Tình hình nhiệm vụ đòi hỏi phong trào cách mạng phải gấp rút toả vào nông thôn, phát triển cơ sở trong đồng bào các dân tộc, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng bán vũ trang và vũ trang cách mạng, xây dựng các khu căn cứ, dự trữ vũ khí, lương thực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Cán bộ đến tuyên truyền và vận động một số nhà lang tham gia mặt trận chống Nhật, việc vận động và thuyết phục đối với một số nhà lang không đơn giản mà là cuộc đấu tranh chính trị rất phức tạp đòi hỏi cán bộ phải vững vàng, có phương pháp khéo léo. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng cán bộ của ta đã bám sát từng vùng, tích cực thực hiện chủ trương do ban cán sự vạch ra, đồng thời phải khẩn trương xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và bán vũ trang, xây dựng các căn cứ dự trữ lương thực, vũ khí chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa.
             Thực hiện nghị quyết hội nghị Bắc Kỳ (15-4-1945), chiến khu Quang Trung được thành lập trên cơ sở chiến khu Hoà Ninh Thanh, đồng chí Văn Tiến Dũng được cử làm chỉ huy trưởng chiến khu, đồng chí Phan Lang được cử làm uỷ viên. Sau hội nghị này đồng chí Văn Tiến Dũng đã qua Hoà Bình tham dự hội nghị ban cán sự họp tại Phương Lâm. Hội nghị đã thống nhất đánh giá việc thực hiện và những phương hướng được đề ra: xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang trên cơ sở phát triển lực lượng cách mạng sâu rộng trong quần chúng nhân dân, xây dựng cơ sở và phát triển Đảng.
             Đến tháng 7 – 1945, trong các khu căn cứ Mường Khói, Thạch Yên, Hiền Lương, Tu Lý và những vùng trọng điểm ta đã thành lập đội tự vệ cứu quốc. Ở thị xã Hoà Bình, đội tự vệ cứu quốc do chi bộ thị xã trực tiếp lãnh đạo, đây là những tổ chức tiền thân của Công an Hoà Bình – một lực lượng nòng cốt, xung kích có nhiệm vụ bảo vệ cách mạng, bảo vệ cán bộ, bảo vệ các cuộc mít tinh, hội họp cuả quần chúng, và tổ chức tuyên truyền cho quần chúng nhân dân về ý thức bảo vệ bí mật các cơ sở.
             Trong thời kỳ tổng khởi nghĩa, lực lượng của ta phải đấu tranh quyết liệt với những thủ đoạn xảo quyệt của địch. Chúng ra sức hoạt động chống phá cách mạng, xây dựng cơ sở từ tỉnh đến huyện, xã, vào những người có thế lực, vào thầy cúng, thầy mo, tuyên truyền kích động chống phá cách mạng, chống lại Việt Minh. Một nhóm thanh niên của tổ chức Đại Việt thân Nhật từ Hà Nội kéo lên cùng với một số tên thân Nhật ở thị xã Hoà Bình do con trai Chánh Đức cầm đầu tổ chức tuyên truyền cho thuyết “ Đại Đông Á” của Nhật và tô vẽ cho chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, xuyên tạc cách mạng. Để đối phó với bọn này, ban cán sự kịp thời chỉ đạo cho các đoàn thể cứu quốc ở thị xã đẩy mạnh tuyên truyền, vạch mặt bọn Đại Việt thân Nhật, vận động nhân dân tẩy chay khi chúng tổ chức mít tinh, vạch trần luận điệu lừa bịp của chúng, cô lập bọn tay sai, làm thất bại âm mưu của chúng, buộc chúng phải rút khỏi Hoà Bình. Thời gian này, họat động đấu tranh trên địa bàn thị xã diễn ra sôi nổi, phong trào kháng Nhật cứu nước đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân các dân tộc. Chi bộ thị xã đã tổ chức những buổi rải truyền đơn, dán áp phích “ đả đảo phát xít Nhật”; “ đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”.
             Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, phát xít Đức và phát xít Nhật buộc phải đầu hàng không điều kiện. Ở Việt Nam, quân đội Nhật mất hết tinh thần, chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt mọi hoạt động, thời cơ ngàn năm có một đã đến, Đảng ta quyết định lãnh đạo toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 16-8-1945, đại hội quốc dân họp ở Tân Trào quyết định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc (tức chính phủ lâm thời) do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch, thực hiện mệnh lệnh tổng khởi nghĩa của Uỷ ban khởi nghĩa và hưởng ứng lời kêu gọi của TW Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước nhất tề đứng lên giành độc lập, tự do trong giờ phút quyết định của lịch sử.
               Ngày 18-8-1945, lệnh tổng khởi nghĩa truyền tới Hoà Bình. Ngay hôm đó ban khởi nghĩa Hoà Bình được thành lập do đồng chí Vũ Thơ làm trưởng ban và kịp thời phát lệnh đến các khu căn cứ. Ngày 19-8-1945, chi bộ thị xã và các cơ sở cách mạng trong tỉnh tiếp nhận lệnh khởi nghĩa. Thực hiện phương án đã dự kiến trước, tập trung lãnh đạo khởi nghĩa ở một điểm chắc thắng rồi tiến lên giành chính quyền ở tỉnh và các châu huyện. Tối 19-8-1945, chi bộ triệu tập hội nghị cán bộ tại nhà một đảng viên ở phố Đồng Nhân, thị xã Hoà Bình, cử ban chỉ huy khởi nghĩa và bàn kế hoạch phát động nhân dân bên bờ phải sông Đà vũ trang giành chính quyền ở châu Kỳ Sơn, chuẩn bị lực lượng, phương tiện đón và phối hợp với quân khởi nghĩa từ các căn cứ tiến về, ở thị xã các tổ tự vệ chiến đấu, tự vệ cứu quốc hoạt động mạnh, tuần tra canh gác khu phố, các cơ sở, cắt đường điện thoại ở khu vực đóng quân của quân Nhật. Tổ tự vệ ở khu phố Phương Lâm đột nhập vào kho vũ khí của giặc Nhật ở phố An Hoà lấy được 27 khẩu súng các loại. Đây là những hành động mưu trí, dũng cảm của các tổ tự vệ chiến đấu, tổ tự vệ cứu quốc, để tạo điều kiện và làm mất khả năng đối phó của quân địch.
               Đúng kế hoạch đã định, ngày 20-8-1945, khởi nghĩa ở Vụ Bản, ta chiếm Châu lỵ Lạc Sơn, trong các ngày 21 và 22-8-1945, đoàn quân khởi nghĩa đã tiến ra Mãn Đức, Cao Phong. Đây là lực lượng tự vệ ở các khu căn cứ giữ vai trò quan trọng trong việc giành chính quyền ở Hoà Bình. Sáng 22-8-1945, nhân dân Quỳnh Lâm, Sủ Ngòi biểu tình tuần hành tiến về giành chính quyền ở Châu lỵ Kỳ Sơn. Như vậy, trong các ngày 20, 21, 22 tháng 8 năm 1945, ở cả hai khu tả và hữu ngạn sông Đà của thị xã Hoà Bình, các xã, khu phố sục sôi khí thế tổng khởi nghĩa.
             Sáng 23-8-1945, đoàn quân khởi nghĩa từ các khu căn cứ tiến vào thị xã, 2 giờ chiều cùng ngày, lực lượng chiến đấu của khu căn cứ Tu Lý – Hiền Lương ém sẵn dinh tỉnh trưởng và toả đi chiếm đóng các công sở trong thị xã. Từ dinh tỉnh tưởng đến các trại Bảo an binh, anh em cứu quốc hướng dẫn binh lính xếp hàng đón quân khởi nghĩa và giao nộp toàn bộ vũ khí gồm 50 khẩu sung và một số đạn dược.
              Cuộc khởi nghĩa ở tỉnh đã diễn ra nhanh chóng và giành thắng lợi hoàn toàn. Ngay chiều hôm đó cuộc mít tinh được tổ chức tại Phủ lộ đường dinh tỉnh trưởng. Đại diện ban chỉ huy khởi nghĩa – đồng chí Vũ Thơ tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai phát xít, tịch thu toàn bộ tài sản, hồ sơ, dấu ấn, giải tán đội bảo an ninh.
              Ngày 24-8-1945, tổ chức cuộc mít tinh lớn tại chợ Phương Lâm, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh ra mắt quần chúng đã kêu gọi nhân dân đoàn kết xung quanh mặt trận Việt Minh, tham gia tích cực xây dựng và bảo vệ Chính quyền Cách mạng.
              Ngày 25-8-1945, lực lượng chiến đấu Hiền Lương, Tu Lý tiến vào thị trấn Bờ chiếm châu lỵ Mai Đà. Tại đây đã thu 20 khẩu súng. Ngày 26-8-1945, giành chính quyền ở châu Lương Sơn.
              Châu Lạc Thuỷ thời kỳ này thuộc tỉnh Nam Hà chỉ đạo, ở đây ta giành chính quyền vào ngày 23-8-1945; ở Yên Thuỷ thuộc Nho Quan ( Ninh Bình) giành chính quyền vào khoảng 20 đến 25-8-1945.
               Như vậy, từ 20 đến 26-8-1945, dưới sự lãnh đạo của ban chỉ huy khởi nghĩa, nhân dân các dân tộc Hoà Bình đã nổi dậy, đập tan bộ máy thống trị của phát xít Nhật và bọn tay sai ở địa phương. Chính quyền cách mạng lâm thời ở tỉnh  và các huyện được thành lập với sự ủng hộ của hàng vạn quần chúng nhân dân lao động. Thắng lợi to lớn của cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 – 1945 ở tỉnh Hòa Bình đã chứng minh công tác Mặt trận của tỉnh Hoà Bình đã phát triển lên một tầm cao mới
6.những sự kiện tiêu biểu trong lịch sử 130 năm của tỉnh Hòa Bình (phần 2)
 HÒA BÌNH GIAI ĐOẠN 1945-1995:
Vào cuối tháng 9-1945, các lực lượng vũ trang Sơn Tây tấn công vào căn cứ của bọn Đại Việt quốc dân Đảng do tên Phùng Đăng Đống cầm đầu ở Yên Lê Tú Bình, Sơn Tây gây cho chúng tổn thất đáng kể. Số còn lại chạy vào Mè Lặt thuộc Yên Quang, Tiến Xuân ( Lương Sơn )- một cơ sở của chúng ở  vùng sâu trong khi quân đội Tưởng đang trên đường từ Sơn La xuống Hoà Bình. Bọn Đại Việt quốc dân Đảng ở Mè Lặt đã giả danh là Vệ quốc đoàn đi Sơn La, lợi dụng sơ sở của ta đến Phương Lâm đột nhập chiếm châu lỵ Kỳ Sơn. Khi chiếm được vị trí này chúng đòi chính quyền của ta chia quyền kiểm soát cho chúng. Trước sự đe doạ đến sự mất còn của chính quyền và thành quả cách mạng, Ban cán sự và Uỷ ban cách mạng lâm thời tỉnh đề ra chủ trương phải trấn áp kịp thời bọn phản động và chỉ thị cho Ty liêm phóng tiến hành điều tra, nắm chắc tình hình hoạt động của bọn Đại Việt quốc dân Đảng ở châu lỵ Kỳ Sơn. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Xứ uỷ Bắc Kỳ và sở liêm phóng Bắc bộ, Ban cán sự và Uỷ ban cách mạng lâm thời tỉnh Hoà Bình dùng lực lượng vũ trang bao vây và tấn công bọn chúng. Xứ uỷ Bắc Kỳ điều một trung đội vũ trang từ Nho quan ( Ninh Bình ) lên phối hợp cùng quân dân địa phương để tấn công địch. Sau ba ngày chống cự thấy nguy cơ bị tiêu diệt bọn phản động phải đầu hàng. Toàn bộ lực lượng Đại Việt quốc dân Đảng bị tiêu diệt trước khi quân Tưởng thị xã Hoà Bình.


Từ khi quân Tưởng vào Hoà Bình, tình hình chính trị, kinh tế xã hội ở khu vực chúng đóng quân trở nên phức tạp, chúng ngang ngược tạo cớ gây khó khăn cho ta, lợi dụng sơ hở của ta đi đến lật đổ chính quyền, lập bộ máy tay sai thân Tưởng. Đứng trước tình hình đó, Ban cán sự đã tổ chức cuộc biểu tình với sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân thị xã yêu cầu quân Tưởng chấm dứt những hành động phá hoại trái với quy ước đóng quân của Đồng minh. Với sức mạnh của cách mạng, trước tinh thần đoàn kết, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chính quyền, bọn Tưởng đã lâm vào thế bất lợi , buộc phải hạn chế những hành động chống phá chính quyền.
          Trước những diễn biến mới của tình hình chính trị trên thế giới và trong nước, nhiệm vụ trước mắt đặt ra đối với đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh là : Ra sức xây dựng và củng cố phong trào phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, bán vũ trang, đẩy mạnh các mặt công tác, sản xuất, xoá nạn mù chữ, xây dựng quê hương. Ban cán sự đã chỉ đạo các Ngành, các địa phương phải nắm vững chủ trương và nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh hoạt động của các đoàn thể, tuyên truyền giác ngộ cho quần chúng nhân dân, khắc phục khó khăn, phát huy tinh thần tự lực, tự cường đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh đánh bại âm mưu phá hoại của bọn đế quốc và bọn tay sai phản động để giữ gìn An ninh trật tự.
Ngày 15-4-1947, thực dân Pháp bắt đầu tiến công đánh chiếm Hoà Bình từ hai phía với ba cánh quân phối hợp:
Cánh quân thứ nhất từ Hà Nội theo đường 6 tiến lên Phương Lâm, với lực lượng một trung đoàn bộ binh cơ giới, đồng thời địch dùng máy bay thả quân nhảy dù xuống Phương Lâm và Thịnh Lang. Hai lực lượng gặp nhau ở thị xã Hoà Bình rồi mở mũi tiến công lên Bãi Sang ( Mai Châu ).
          Cánh quân thứ hai từ Sơn La xuôi đường 6 và hợp điểm với cánh quân thứ nhất ở Bãi Sang ( Mai Châu ).
          Cánh quân thứ ba từ Thượng Lào vượt sông Mã, chiếm Vạn Mai rồi tấn công dọc theo đường 15 và bắt liên lạc với hai cánh quân trên từ Bãi Sang kéo vào Mai Châu.
           Do được chuẩn bị trước nên ngay khi địch đánh chiếm Hoà Bình, các lực lượng vũ trang đã kịp thời đánh trả quyết liệt, nhân dân tản cư lánh xa đường hành quân của giặc, du kích ở lại bám làng chiến đấu.
          Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Hoà Bình, chúng đã lập nhiều đồn bốt trên dọc tuyến đường 6, 15, 21 tập trung lực lượng cơ động để càn quét, vây bắt người các nơi. Nắm được tình hình, ta chủ động chuyển các cơ quan đến nơi an toàn. Thu đông năm 1947, trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, địch đã chiếm những vị trí quan trọng nhằm mở rộng vùng chiếm đóng như Cao Phong, Quy Hậu, Mãn Đức, Thạch Bi, khống chế đường 12, 6, từ phía trên đánh xuống chợ Bờ, suối Rút, rồi từ Hà Đông, Vân Đình đánh chiếm dọc đường 21. Chúng lập các đồn bốt để khống chế các đường quốc lộ huyết mạch, chia cắt thành từng vùng, như vậy, vùng an toàn khu còn lại Lạc Sơn và vùng trong của Lương Sơn ( nay là Kim Bôi ). Tháng 3 – 1948, thực dân Pháp rút bọn tay sai về tỉnh lỵ , lập ra “Xứ Mường tự trị” độc lập giả hiệu và phong cho Đinh Công Tuân làm chánh quan lang và một số tên lang khác làm quận trưởng, chánh phó tổng, đồn trưởng. Sau khi  " Xứ Mường tự trị " được hình thành, chúng tổ chức một tiểu đoàn Mường phát triển lang binh. bọn tay sai lại có chỗ dựa, bọn chúng cấu kết với nhau rất chặt chẽ và hoạt động mạnh ở Bình Hẻm, Thung Vang, Thung Cô, Mường Bi, Cao Phong. Cùng với sự giúp sức của một số tên lang đạo thực dân Pháp đánh chiếm được Mường Vang, chúng tăng cường thủ đoạn tuyên truyền mị dân, đặt các mạng lưới thông tin ở thị trấn, thị xã, và các huyện, xuất bản tờ báo " Sao Trắng " cổ vũ cho bọn ngụy quân, ngụy quyền, lang đạo. Ngày 4-4-1948, địch tổ chức đại hội  " Xứ Mường tự trị" ở thị xã gồm các quận trưởng và các xã mà chúng đang chiếm đóng. Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, cần đẩy mạnh một số nhiệm vụ trước mắt, Tỉnh ủy Hòa Bình đã quyết định triệu tập Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ tại vùng căn cứ Lương Sơn ở Đình Lập Chiệng nay thuộc Kim Bôi. Qua phân tích tình hình của địch, Đại hội thấy rằng phải nhanh chóng tuyên truyền cho nhân dân thấy rõ âm mưu của địch, đồng thời củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng du kích địa phương, bảo vệ dân và kiên quyết xóa bỏ những đồn bốt địch chiếm đóng. Đại hội cũng đã đề ra phương hướng công tác quân sự và An ninh trật tự, công tác chính quyền, văn hóa xã hội và xây dựng cơ sở trong vùng địch tạm chiếm. Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Hòa Bình đã đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng ở Hòa Bình trên nhiều lĩnh vực, khối đại đoàn kết các dân tộc trong tỉnh ngày càng được củng cố.   
          Đầu tháng 5-1948, phong trào kháng chiến phát triển mạnh ở các vùng Mai Châu, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Lương Sơn, Lạc Thủy ( thuộc Hà Nam ). Ngày 19-01-1948, Thường vụ TW Đảng ra chỉ thị về việc " Phá tề". Thực hiện chỉ thị đó, Tỉnh ủy Hòa Bình thành lập " Ban phá tề "gồm đại diện của Công an, Quân đội, thông tin...đẩy mạnh công tác phá tề trừ gian.
          Trên dọc tuyến đường 12, lực lượng công an và đội du kích Mường Vang hoạt động mạnh. Tại vùng Mai Châu, sau khi địch chiếm đóng, nhiều cán bộ của ta được cử lại tiếp tục hoạt động gây cơ sở bí mật để tổ chức diệt địch. Ở Đà Bắc, xây dựng thành 3 vùng liên hoàn chiến đấu diệt địch...
          Ngày 10-01-1949, Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh triệu tập hội nghị cán bộ để quán triệt chủ trương của Đảng về công tác phá tề trừ gian, rút kinh nghiệm, đề ra kế hoạch mới. Theo chủ trương chỉ đạo của tỉnh lấy ngày 02-09-1949 là ngày phát động phong trào phá tề. Tháng 9, tháng 10 - 1949, những tên đầu sỏ đã bị trừng trị đích đáng gây hoang mang lo sợ cho bọn tay sai và thực dân Pháp.
         Đối với Hòa Bình, Liên khu ủy Liên khu 3 nhận định đây là một vị trí quan trọng, nếu địch chiếm đóng sẽ cắt liên lạc giữa miền tây và các tỉnh đồng bằng phía nam , bởi vậy, TW đã quyết định mở chiến dịch " Lê Lợi " lấy Hòa Bình làm hướng chính. Phạm vi chiến dịch từ phía bắc tớiTu Vũ, phía nam tới Vụ Bản ( Lạc Sơn ); phía đông Lương Sơn đến Mai Lĩnh - Hà Tây, phía tây đến suối Rút ( Mai Đà ). Đêm 26-11-1949, chiến dịch Lê Lợi bắt đầu, tấn công trên dọc tuyến đường 6 và đường 12, đánh suối Rút, chợ Bờ, Mỏ Hém sau đó tiến đánh Nghè, Tử Nê, Khay, Đồn Riệc rồi tiếp tục tấn công Cao Phong - sào huyệt của bọn ngụy Đinh Công Tuân.
          Chiến dịch đợt 1 thu được thắng lợi lớn buộc địch phải rút khỏi Mai Châu, Đà Bắc. Chiến dịch đợt 2 năm 1950, ta đánh tập trung vào Chiềng Vang, Vụ Bản và kết thúc ở đây. Thắng lợi của chiến dịch này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với quân và dân Hòa Bình, đồng thời nó còn góp phần làm nên chiến thắng to lớn của toàn dân tộc. Công tác phá tề trừ gian được tỉnh ủy đánh giá và tiến hành rất kịp thời , làm cho chúng không lập được tề, phá được hệ thống từ quận tới xã.
          Thu đông năm 1950, địch thất bại ở chiến dịch biên giới, chúng không còn đủ sức mạnh để chiếm giữ, phải co cụm về các vùng quan trọng. Quân và dân Hòa Bình tiếp tục đẩy mạnh thế chủ động trên chiến trường, tấn công, bao vây, đánh các đồn bốt, tăng cường phá tề, trừ gian, làm tốt công tác dịch vận gây cho địch những tổn thất nặng nề. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, từ ngày 01 đến ngày 08-11-1950, địch rút quân khỏi Chiềng Vang, Rổng, Đồng Bái, đồng thời chúng cũng rút khỏi Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình được giải phóng lần thứ nhất.
          Ngày 15-11-1950, hội nghị tỉnh ủy mở rộng kịp thời thống nhất ý chí hành động về những nhiệm vụ cấp bách: nhanh chóng tiếp thu vùng giải phóng, ổn định về đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ và quần chúng nhân dân, đảm bảo An ninh trật tự, chống biểu hiện chủ quan khinh địch, nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đánh địch khi chúng quay trở lại Hòa Bình lần 2.
          Việc củng cố xây dựng chính quyền các cấp, dựa trên cơ sở bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh từ tháng 8 - 1950, Tỉnh ủy Hòa Bình chỉ đạo chặt chẽ bầu Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh. Hòa Bình được giải phóng, song một số tỉnh giáp ranh như Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Sơn La, địch vẫn còn chiếm đóng. Máy bay địch vẫn thường xuyên hoạt động oanh tạc, trên các tuyến đường số 6, 12, 21, những khu vực Cao Phong, Chợ Bờ, Suối Rút và những nơi cơ quan còn đang sơ tán. Lúc này, các phong trào ở Hòa Bình được củng cố từ tỉnh đến huyện, xã và phát triển đồng đều, tổ chức Liên Việt phát triển mạnh, trong ban chấp hành Liên Việt có đầy đủ đại diện của các giới tham gia hoạt động tích cực. Sau khi Hòa Bình được giải phóng, TW quyết định chuyển huyện Mai Đà và một số xã bên tả ngạn sông Đà ( Hòa Bình, Thịnh Lang, Yên Mông ) cho tỉnh Hòa Bình. Song song với các hoạt động quân sự trong năm 1951, thực dân Pháp tăng cường hoạt động do thám, tung mạng lưới chỉ điểm khắp nơi, nhất là ở các vùng giáp ranh, giữa vùng tự do và vùng địch như đường 21 Lương Sơn, đường 6 và đường 12, Yên Quang, Tiến Xuân, Phú Cường, Mông Hóa, Cao Phong, Thạch Yên, lôi kéo các phần tử bất mãn, tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nhằm kéo nhân dân xa rời cuộc kháng chiến, làm giảm sút tinh thần chiến đấu của quân và dân. Trên tuyến đường 21, bọn do thám chỉ điểm đã nhiều lần chỉ dẫn cho máy bay địch đánh phá vào các cơ quan, kho tàng của ta nơi sơ tán. Ở Lương Sơn xuất hiện một nhóm phản động đứng đầu là tên Chánh Tuấn, đã tập hợp bọn bất mãn, phản động, lợi dụng đạo thiên chúa ở vùng địch chiếm đóng Hà Đông, bắt liên lạc với Pháp chống lại chính quyền ta, lúc này địch cho xuất bản tờ báo "Sao Trắng" rải truyền đơn tung tin địch đánh chiếm Hòa Bình lần thứ 2 để kích động bọn phản động, gây hoang mang cho nhân dân.
          Ngày 12-4-1951, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ 2 đã họp tại xóm Đồng Lốc xã Nật Sơn ( Lương Sơn nay là Kim Bôi ) có 125 đại biểu thay mặt cho trên 2000 đảng viên trong toàn Đảng bộ về dự đại hội.
          Đại hội Đảng bộ Hòa Bình lần thứ hai đánh dấu một bước trưởng thành của Đảng bộ, đề ra nhiệm vụ cơ bản là xây dựng Hòa Bình mới giải phóng về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của TW và Liên khu 3 đề ra. Đại hội bầu ban chấp hành mới gồm 16 đồng chí. Sau đại hội, Tỉnh ủy phân công một số tỉnh ủy viên về phụ trách các huyện để tăng cường, củng cố chính quyền các cấp từ tỉnh tới huyện, xã, củng cố các lực lượng vũ trang, làm tốt công tác phòng trừ gian, vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, tích cực đi dân công phục vụ chiến dịch.
          Tướng Đờ-lát-đờ-tát-xi-nhi tổng chỉ huy quân đội viễn chinh của Pháp nhận định: Hòa Bình là ngã ba giao thông nằm trên đường độc đạo Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, đây là vị trí quan trọng, chiếm được khu tam giác Hòa Bìnhcòn có lợi củng cố hệ thống phòng thủ, còn là một đài quan sát. Về chính trị Hòa Bình là " kinh đô của xứ Mường ". Vì vậy sau một thời gian bình định, thực dân Pháp cho rằng đã đến lúc phản công lại Việt Minh và đánh chiếm Hòa Bình.
         Để giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ, ngày 9-11-1951, thực dân Pháp đã mở cuộc tấn công lần thứ 2 tái chiếm Hòa Bình nhằm mục đích:
         - Ngăn chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc với Liên khu 2, 3, 4.
         - Buộc chủ lực ta phải tham chiến, đưa lực lượng vào thế bị động để tiêu diệt. Tranh thủ viện trợ của Mỹ.
         - Củng cố lòng tin cho quân đội Pháp.
          Lúc này toàn bộ vùng Sơn Tây giáp ranh Hòa Bình đang bị quân địch chiếm đóng. Chiếm được Hòa Bình, chúng khống chế tuyến đường 21 khu vực chợ Bến ( Lương Sơn nay là Kim Bôi ) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, đường 6, dọc sông Đà lên chợ Bờ. Trước sự tấn công của quân đội Pháp, một số tên phản động chớp thời cơ tìm cách móc nối làm tay sai cho Pháp để hoạt động, Đinh Công Tuân ráo riết tập hợp tay chân hòng khôi phục lại " Xứ Mường tự trị ".
          Dự đoán được địch đem quân đánh chiếm Hoà Bình, đây là cơ hội rất tốt để ta có thời cơ tiêu diệt chúng. Bởi vậy ngày 18-11-1951, TW Đảng, Bộ tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Hoà Bình. Trước khi vào chiến dịch, Bác Hồ gửi thư chỉ thị và động viên toàn quân, toàn dân trên mặt trận chính Hoà Bình.
          Ngày 24-11-1951, TW Đảng ra chỉ thị phải phá cuộc tiến quân của địch lên Hòa Bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những điều kiện " Trước đây ta phải lừa địch để đánh, nay địch tự ra cho ta đánh đó là một cơ hội tốt nhất cho ta, bộ đội chủ lực đánh, bộ đội địa phương, quân dân du kích cũng đánh, các lực lượng phải phối hợp chặt chẽ với nhau để tiêu diệt sinh lực địch để phá tan kế hoạch Thu Đông của chúng ".
          Chấp hành chỉ thị của TW Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ tổng tham mưu quyết định tập trung lực lượng mở chiến dịch Hòa Bình. Quân và dân địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực và các lực lượng liên tục tiến công địch trên mặt trận Hòa Bình, buộc địch phải rút chạy một số nơi.
         Ngày 6-01-1952, từ thị xã Hòa Bình thực dân Pháp tung một toán biệt kích vào vùng Cao Phong, được bọn lang đạo ở đây hỗ trợ, tên Đinh Công Cờ đã trực tiếp làm nội ứng cùng đồng bọn nổi dậy bắt giết 7 cán bộ đảng viên trong đó có đồng chí Dũng là tỉnh ủy viên và 29 quần chúng. Sau đó bọn chúng rút chạy vào hang Lãi. Vụ Đinh Công Cờ cùng đồng bọn nổi dậy làm nội ứng giết cán bộ ta vào thời điểm chiến dịch Hòa Bình đang phát triển. Trước sự việc đó gây cho ta những tổn thất đáng kể, làm cho quần chúng hoang mang, dao động.
         Ngày 25-02-1952, chiến dịch Hòa Bình toàn thắng sau 3 tháng địch chiếm đóng, tỉnh Hòa Bình được giải phóng lần thứ 2. Chiến dịch Hòa Bình là một sự kiện nổi bật đánh dấu bước trưởng thành của quân và dân ta, với sự hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng, có tác dụng và ý nghĩa to lớn với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở tỉnh nhà.
        Từ tháng 3-1952, tỉnh Hòa Bình về cơ bản đã được giải phóng nhưng ở tuyến đường 21, một số vị trí địch vẫn còn chốt giữ như khu vực Xuân Mai, chợ Bến, Đồi Bái, Rổng án ngữ những con đường này để lập phòng tuyến quân sự, lập vành đai bảo vệ cho khu vực đồng bằng, vùng Hà Đông, Sơn Tây. Địch không tổ chức những cuộc tấn công lớn nhưng thường xuyên càn quét vào các xã ven đường 21, Yên Quang, Tiến Xuân, khu vực giáp ranh, cho máy bay bắn phá trên dọc tuyến đường 21, đường số 6, đường 12 nơi các cơ quan, các khu vực hậu cứ, kho tàng quan trọng của ta ở một số nơi như Phương Lâm, chợ Bờ, ngã ba Chăm, suối Rút, các cầu phà, kho thóc Liên Cộng, kho muối Mãn Đức, kho điện đài Võ Long, Lạc Sơn, đồng thời chúng còn tung vào hậu phương nhiều toán gián điệp biệt kích, để móc nối với những cơ sở còn lại, nắm tình hình chỉ điểm cho máy bay địch bắn phá, oanh tạc, đưa đường cho các toán biệt kích vào sâu hậu phương của ta. Từ năm 1952 chúng lập ra hai đường dây gián điệp biệt kích. Tuyến thứ nhất từ Sơn Tây qua Yên Quang, Tiến Xuân đến thị xã Hòa Bình. Tuyến thứ hai từ Hà Đông, Vân Đình, Chợ Bến ( Lương Sơn ) qua thị xã Hòa Bình lên đường 12. Chúng tăng cường do thám tung các toán biệt kích xuống các khu vực Phú Cường, Trung Minh, Mông Hóa, Quỳnh Lâm, Cao Phong, Thạch Yên, Thạch Bi, Dũng Tiến ( Lạc Sơn ), Chi Nê, Khoan Dụ ( Lạc Thủy ) để tiếp tục móc nối với số lang đạo bất mãn với cách mạng về chính sách thuế nông nghiệp, ruộng đất đồng thời tiến hành thu thập tin tức về những nơi kho tàng, cơ quan sơ tán, gây chiến tranh tâm lý, mua chuộc cán bộ, nhân dân để phá các chủ trương chính sách kháng chiến của Đảng và Nhà Nước.
          Những hoạt động của bọn biệt kích hỗn hợp nhảy dù ở Hòa Bình thuộc chi nhánh Sơn Tây do tên Doremin chỉ huy. Nhiệm vụ của chúng là điều tra thu thập tình hình bắn phá, đánh mau rút nhanh, tuyên truyền gây cơ sở, gây phỉ lập căn cứ. Một số nơi bọn phản động cho là thời cơ đến ngóc đầu dậy chống lại chính quyền địa phương, tăng cường hoạt động tuyên truyền chiến tranh tâm lý, rải truyền đơn, tung tin thất thiệt, xuyên tạc cuộc kháng chiến của nhân dân  ta và đe dọa sẽ tiến công chiếm đóng Hòa Bình lần thứ 3 nhằm gây hoang mang cho nhân dân và yên lòng bọn phản động. Ngoài ra chúng còn rải chất độc giết hại trâu bò, thả côn trùng phá hoại hoa màu của nhân dân ở các địa phương: Lương Sơn, Lạc Sơn, Kỳ Sơn... làm cho tình hình An ninh trật tự của địa phương sau những ngày giải phóng hết sức phức tạp.
          Trước tình hình ấy, Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình tiến hành song song hai nhiệm vụ cấp bách: củng cố và xây dựng hậu phương vững mạnh sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của địch, tích cực chi viện cho tiền tuyến. Nghị quyết tỉnh ủy Hòa Bình tháng 3-1952 xác định công tác trọng tâm là : " tích cực chống âm mưu phá hoại của địch, bảo vệ và xây dựng địa phương thành căn cứ kháng chiến vững mạnh ", tăng cường giáo dục cho dân hiểu rõ ý nghĩa cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng, đẩy mạnh công tác phòng gian trừ tà, giữ vững An ninh trật tự, củng cố lực lượng vũ trang ở địa phương, xây dựng khu du kích, tăng cường phát triển lực lượng Công an, tổ chức chính quyền cơ sở vững mạnh để làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân đánh giặc. Về mặt chỉ đạo, Tỉnh ủy chỉ rõ phương châm tác chiến : " Liên tục chiến đấu, tích cực tìm địch mà đánh, đánh du kích nhỏ ăn chắc".
          Đầu tháng 3-1952, nhân dịp tổ chức lễ mừng chiến thắng tại thị xã Hòa Bình, tỉnh đã phát động cuộc vận động quần chúng " Tố cáo tội ác của giặc " nhằm khơi dậy chí căm thù giặc Pháp và bọn phản động tay sai. Công tác An ninh trật tự luôn được tỉnh xác định là quan trọng cùng với các nhiệm vụ khác, xây dựng Đảng, củng cố các đoàn thể, phát động phong trào quần chúng đẩy mạnh các hoạt động địa phương.
         Cuối tháng 8-1952, bọn phản động trong số lang đạo ở Nật Sơn ( Kim Bôi ) tụ tập hoạt động, chúng lập ra tổ chức " Lang đạo phục hồi " do tên Bạch Công Long, Bạch Công Ky cầm đầu. Chúng đã liên lạc móc nối với một số tên khác ở Mường Cời, Tú Sơn, Vĩnh Đồng hòng thực hiện âm mưu đón Pháp ở đường 21 và lập tề, khôi phục lại " Xứ Mường tự trị " để chống lại kháng chiến. Các hoạt động trên được quần chúng nhân dân và cở sở phát hiện cung cấp tin tức. Ta đã kế hoạch bố trí lực lượng đón bắt gọn những tên trong tổ chức này trước khi chúng hành động. Tuy hậu quả của vụ này gây ra chưa lớn, song đây là bản chất giai cấp của bọn phản động trong lang đạo luôn tìm cách bắt tay với giặc chống lại cách mạng. Với tinh thần cảnh giác của nhân dân, lực lượng Công an đã khẩn trương, kịp thời làm thất bại âm mưu hoạt động của tổ chức phản động " lang đạo phục hồi " để lập " Xứ Mường tự trị ".
         Công tác khám phá các vụ hoạt động gián điệp và trấn áp bọn phản động đã có tác dụng giáo dục răn đe những tên khác đang có âm mưu ngấm ngầm chống đối chính quyền, ổn định tình hình An ninh trật tự, phục vụ kịp thời nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng hậu phương vững mạnh tích cực chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến.
         Tháng 9-1952, TW Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch ở Sơn La, mở rộng vùng căn cứ địa cách mạng. Với những nhiệm vụ mới được đặt ra, là tỉnh hậu phương trực tiếp với chiến trường, Tỉnh ủy Hòa Bình phát động phong trào tất cả phục vụ cho chiến trường với những nội dung cụ thể là :" Tập trung xây dựng hệ thống phòng thủ, huy động nhân tài, vật liệu từ tỉnh tới xã, thành lập các cơ quan bảo vệ và sửa chữa các tuyến đường giao thông chiến lược, các bến phà, động viên tinh thần kháng chiến của nhân dân trong tỉnh bằng những hành động thực tế trong việc đẩy mạnh sản xuất xây dựng hậu phương vững chắc ".
         Trước khí thế sôi nổi chuẩn bị phục vụ chiến dịch, lực lượng vũ trang được tăng cường củng cố về mọi mặt. Các ban chỉ huy dân công được thành lập ở tỉnh, huyện, xã, cấp ủy viên trực tiếp phụ trách. Các đoàn thể quần chúng làm tốt công tác tuyên truyền động viên nhân dân hăng hái đi dân công phục vụ chiến dịch. Đội thanh niên xung phong của tỉnh cũng được thành lập làm nhiệm vụ vận chuyển trên các tuyến đường 12-41-15 đường 6, trên các bến phà, thị xã, chợ Bờ, suối Rút, Vụ Bản...
          Cuối năm 1952, bọn phản động ở Thanh Hóa, Sơn La được cơ quan gián điệp của Pháp ở Lào giúp sức chúng qua đường biên giới Việt - Lào xâm nhập vào Mai Châu, Mai Đà, lén lút hoạt động, gây cơ sở, dùng vũ khí tấn công vào Ủy ban kháng chiến xã Mai Châu, gây rối loạn ở địa phương, phá hoại việc thực hiện chính sách của Đảng chia rẽ đoàn kết dân tộc, làm ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, sản xuất của nhân dân.
         Vào cuối năm 1952, đầu năm 1953, quân và dân ta liên tiếp mở các đợt phản công địch trên toàn bộ chiến trường. Thực dân Pháp phải co cụm lại để đối phó, tăng cường tung gián điệp biệt kích vào Hòa Bình, điều tra nắm tình hình nơi hành quân, trú quân của ta, nhằm phá hoại kho tàng và giao thông vận chuyển, phá hoại hậu phương phục vụ cho kế hoạch bao vây, tấn công của chúng.
         Tháng 1-1953, hội nghị Tỉnh ủy đã chỉ rõ phải đẩy mạnh công tác phòng gian, trừ gian, giữ gìn bí mật, bảo vệ tốt các tuyến giao thông vận chuyển vũ khí, lương thực phục vụ cho chiến dịch, kiên quyết làm trong sạch địa bàn, đập tan âm mưu phá hoại của các toán gián điệp biệt kích do thám, phản động. Chủ trương của tỉnh đã tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân địa phương, nêu cao ý thức cảnh giác, hiểu rõ âm mưu phá hoại của kẻ thù. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân.
         Cuối năm 1953, Bộ chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, tỉnh Hòa Bình với nhiệm vụ khẩn trương gấp rút chuẩn bị phục vụ tại chiến trường. Tỉnh ủy cụ thể hóa những nhiệm vụ trước mắt: Bảo vệ giao thông vận chuyển thông suốt, huy động lực lượng phương tiện để phục vụ chiến dịch, vận chuyển lương thực, thực phẩm , vũ khí, đạn dược ra tiền tuyến, bảo vệ các đoàn dân công khu 3, khu 4 lên phục vụ chiến dịch. Với các nhiệm vụ đó Hòa Bình đã xác định là hậu phương trực tiếp của chiến trường cả nước. Thực hiện chủ trương TW Đảng và Hồ Chủ Tịch, Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình đẩy mạnh phong trào thi đua " Ái quốc " với khẩu hiệu : Tất cả cho tiền tuyến để đánh thắng giặc Pháp xâm lược ". Đứng trước những nhiệm vụ và yêu cầu cấp bách đặt ra, Ty Công an Hòa Bình khẩn trườn triển khai phương án bảo vệ các tuyến đường 6-12-21-24, thành lập các trạm kiểm soát ở những vùng trọng điểm về giao thông, hướng dẫn quần chúng nhân dân học tập những nội dung, biện pháp phòng trừ gian, giữ gìn bí mật, tập trung ở những địa bàn trọng điểm. Các đợt chỉnh huấn cán bộ, đảng viên đã kết hợp nội dung nhiệm vụ bảo mật phòng gian cũng được vận dụng vào cá nhân để kiểm điểm làm trong sạch nội bộ. Những người có liên quan đến vấn đề chính trị thì chuyển đổi không để làm việc ở những bộ phận thiết yếu, cơ mật. Thất bại của thực dân Pháp trên chiến trường Bắc Bộ ngày càng lún sâu vào thế bị động phòng ngự đối phó, chúng tăng cường các hoạt động phá hoại hậu phương của ta. Tháng 1-1953, Pháp tung nhiều toán quân biệt kích nhảy dù xuống Cao Phong ( Kỳ Sơn ), lực lượng Công an, Quân đội truy quét, bắt gọn những tên biệt kích. Ngày 17-3-195, lực lượng vũ trang địa phương, quân đội, công an, dân quân du kích phối hợp bao vây, chặn đánh quân địch quyết liệt, sau mấy tiếng đồng hồ quân địch đã phải rút chạy. Từ đây, phong trào bảo mật phòng gian được đẩy mạnh trong quần chúng nhân dân. Tỉnh uỷ Hoà Bình với chủ trương phát huy hơn nữa về công tác phòng chống biệt kích, phản động giữ vững An ninh trật tự, bảo vệ vững chắc hậu phương. Tỉnh uỷ ra quyết định phát động phong trào “ Một tháng toàn dân tham gia diệt biệt kích phản động ”. Cũng trong thời gian này, tỉnh mở hội nghị bảo vệ cơ quan, kho tàng, những mục tiêu, địa bàn trọng điểm. Qua hội nghị đã rút ra nhiều kinh nghiệm về công tác bảo vệ cơ quan. Từ đó thành lập các đội bảo vệ ở tuyến huyện và các cơ quan để làm nhiệm vụ bảo vệ và phục vụ chiến dịch.
         Mở đầu chiến dịch ngày 13-3-1954, quân đội ta tấn công vào Điện Biên Phủ, quân địch hoang mang, khiếp sợ, mất hết tinh thần.
         Ngày 7-5-1954, cứ điểm cuối cùng của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ bị đập tan, tướng Đờ-cát-tơ-ri phải đầu hàng cùng với hơn 30.000 quân lính bại trận, chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng.
         Ngày 20-7-1954, hiệp định Giơ-ne-vơ đựơc ký kết, chính phủ Pháp buộc phải công nhận độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chấm dứt chiến tranh xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dành thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng đất nước, xây dựng quê hương vững mạnh, bước vào giai đoạn cách mạng mới.
          Dưới sự lãnh đạo tài tỉnh của Đảng, Nhà Nước, Hồ Chủ Tịch, quân và dân Hoà Bình đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, đánh đuổi giặc Pháp và bè lũ tay sai, bảo đảm An ninh trật tự, làm hậu phương vững chắc, tích cực chi viện cho tiền tuyến. Chiến công đó đã viết nên trang sử hào hùng góp phần cùng toàn quân, toàn dân dành thắng lợi trong các chiến dịch Lê Lợi, Quang Trung, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ.
7.những sự kiện tiêu biểu trong lịch sử 130 năm của tỉnh Hòa Bình (phần 3):
 HOÀ BÌNH VÀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC ( 1954-1975 ):
  Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Giơ-ne-vơ các thế lực phản cách mạng đã ráo riết hoạt động điên cuồng chống phá cách mạng nước ta. Bước vào giai đoạn mới nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là: Đoàn kết, lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện đình chiến để củng cố hoà bình, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoại đình chiến của đế quốc Mỹ và tay sai, tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang để củng cố miền Bắc, giữ vững và phát triển đấu tranh chính trị ở miền Nam, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước. Tháng 9 năm 1954, Bộ chính trị đề ra nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi, phát triển kinh tế một cách có kế hoạch và từng bước mở rộng giao lưu kinh tế giữa thành thị và nông thôn. Cuối năm 1954, tỉnh uỷ Hoà Bình đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là : “ Củng cố đoàn kết dân tộc, chống âm mưu chia rẽ của đế quốc và tay sai, củng cố lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác kinh tế, tài chính, phát triển văn hoá xã hội, đấy mạnh sản xuất nông nghiệp, khuyến khích phục hồi diện tích đất hoang”. Ngày 22-02-1955, Thường vụ tỉnh uỷ họp nhận định: Địch sẽ tăng cường hoạt động gián điệp lâu dài, dựa hẳn vào bọn địa chủ lang đạo phản động, phát triển cơ sở, nhen nhóm đảng phái ở những nơi xung yếu, tung tay chân về các vùng Cao Phong, Mai Châu, vùng công giáo. Địch sẽ lợi dụng mê tín để cưỡng bức quần chúng, mua chuộc, đe doạ cán bộ. Từ những nhận định đó Tỉnh uỷ quyết định thành lập ban chỉ đạo thống nhất nhằm tăng cường vận động quần chúng, nâng cao cảnh giác cách mạng, giáo dục, cải tạo, phân hoá các đối tượng, chủ động tấn công tiêu diệt địch. Đúng như nhận định của Tỉnh uỷ, tình hình an ninh diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Hàng loạt vụ phá hoại với nhiều thủ đoạn khác nhau đã xảy ra dồn dập gây cho ta nhiều thiệt hại.
Đêm 10-5-1955, tại hai xóm Bãi Trung và Ổ Gà thuộc xã Đoàn Kết, huyện Lạc Sơn (nay là huyện Đông Lai – Tân Lạc), bọn phản động đã đốt 28 nóc nhà sàn, cháy hơn 15 tấn thóc, chết hàng trăm gia cầm, gia súc trong đó có 18 nhà bị cháy hoàn toàn. Đây là một vụ phá hoại bằng đốt cháy lớn nhất ở Hoà Bình từ trước đến nay và nghiêm trọng hơn là sau khi đốt cháy, lợi dụng sự lạc hậu, mê tín của đòng bào, chúng đã tung tin là ma hoả đốt vì làng không thờ cúng ma. Những hoạt động táo bạo, trắng trợn của chúng đã làm cho cán bộ địa phương hoang mang không dám công tác, nhân dân kông dám đi họp. Nhiều gia đình đã chuẩn bị di chuyến đi nơi khác, lập bàn thờ ma. Trước đó bọn chúng đã tuyên truyền nhiều luận điệu xấu nhằm phá hoại chính sách thuế nông nghiệp, xúi giục dân không vào tổ đổi công, kêu gọi quyên góp xây dựng cúng ma để khỏi bị đốt làng, chúng cũng đã đốt rừng để lửa lan vào xóm nhưng nhân dân phát hiện và dập tắt kịp thời.
          Ngay sau khi xảy ra vụ phá hoại nói trên, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo chính quyền, các ngành, đoàn thể tiến hành trợ cấp lương thực, gạo muối, vận động nhân dân giúp đỡ nhau làm nhà. Chỉ sau một tuần, Quách Tước và đồng bọn gây ra vụ đốt với mục đích phá hoại đã bị bắt. Cũng trong thời gian đó những tên ngụy quân cũ còn lợi dụng những cuộc họp dân giả lên đồng đe dọa cán bộ không được hoạt động, tung tin ma biệt kích về làm ốm tổ trưởng nông hội, lập miếu thờ ma bộ đội để khỏi bị quấy nhiễu, cắm chông, xé các thông cáo, khẩu hiệu trong những ngà nộp thuế nông nghiệp. Bọn phản động cũng triệt để lợi dụng mê tín và sự lạc hậu của đồng bào, lợ dụng chính sách sửa sai, đã ngóc đầu dậy trả thù cốt cán. Thủ đoạn của chúng là đe dọa, lôi kéo, mua chuộc cán bộ địa phương kể cả chủ chốt đưa tay chân vào nội bộ ta để tiến hành các hoạt động xuyên tạc chính sách, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại sản xuất, đốt  nhà, giết người gây hoang mang trong nhân dân. Sau khi lôi kéo, sử dụng được một số cán bộ công an xã, xã đội, du kích làm chỗ dựa, chúng lừa bịp, kích động nông dân tham gia " đấu ếm " có vụ hơn 100 người tham gia. Đây là một thủ đoạn xảo quyệt dùng nông dân đánh vào nội bộ nông dân. Chúng đã tiến hành 3 vụ giết người bằng cách " đấu ếm " ở Lạc Thủy, Kim Bôi. Những vụ chưa giết được, chúng cưỡng bức cốt cán và nông dân ép đuổi ra khỏi làng, chuyển đi nơi khác. Ở vùng giáo Khoan Dụ ( Lạc Thủy ), bọn phản động lợi dụng đạo Thiên chúa và các thế lực thù địch cũng ráo riết tiến hành chiến dịch vu cáo chính sách tôn giáo của ta, kích động, cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Bọn gián điệp biệt kích cũ ở vùng Tiến Xuân, Yên Quang ( Lương Sơn )cũng nhen nhóm hoạt động, móc nối với bọn phản động ở Sơn Tây. Thực hiện chủ trương của cấp trên, ta tập trung lực lượng đấu tranh trấn áp thành công một số vụ phá hoại bằng thủ đoạn đốt nhà, " đấu ếm " ở Đông Lai, Phú Lai và nhiều nơi khác. Năm 1956, khí thế cách mạng của quần chúng ở nhiều nơi được phát động, nâng cao hơn trước. Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm tới công tác bảo vệ An ninh trật tự, đề ra biện pháp chủ trương cụ thể, nhiều vụ việc đã được khám phá nhanh chóng. Ở Mai Châu, thời kỳ đầu năm 1956, một số tên địa chủ, biệt kích cũ đã nhen nhóm tập hợp lực lượng chống đối. Trước tình hình phức tạp và nghiêm trọng do bọn phản động phá hoại gây ra, ngày 02-10-1956, Ban bí thư TW Đảng đã ra chỉ thị số 47/CT-TW, nêu rõ: " Phải tích cực ngăn ngừa và đề phòng những hành động phá hoại của bọn địa chủ, cường hào gian ác ngóc đầu dậy, bọn lưu manh và những phần tử phá hoại hiện hành".
           Năm 1957, dân số toàn tỉnh đã tăng lên 190.769 với tám dân tộc anh em, là năm đầu tiên đẩy lùi được nạn đói, nhân dân không phải ăn củ rừng nhưng đã xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp mới trong nội bộ nhân dân có liên quan đến An ninh và chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo, kinh tế. Nổi lên là tranh chấp đất đai, ruộng, nương, lâm sản, nguồn nước ở các vùng giáp ranh tỉnh, huyện và các vùng dân tộc dẫn đến xung đột, xô xát lớn. Ngày 13-4-1957, Ban bí thư TW Đảng ra chỉ thị số 45/CT - TW về tăng cường lãnh đạo công tác bảo vệ kinh tế. Chỉ thị nêu rõ " Các cấp ủy Đảng cần phải thực hiện lãnh đạo công tác công an, củng cố và tăng cường công tác bảo vệ kinh tế, bố sung cán bộ có năng lực cho các ban bảo vệ kinh tế ở các khu, ty công an...".
          Từ sau ngày hòa bình lập lại, trên địa bàn một số tỉnh miền núi phía Bắc đã xảy ra một số vụ " xưng đón vua " như ở Đồng Văn ( Hà Giang ), Quan Hóa, Bá Thước ( Thanh Hóa ). Tháng 4-1947, tại Hang Kia, Pà Cò ( Mai Châu ) đồng bào Mông ở đây đã lan truyền tin " sắp sửa có vua ra, có người đã nhìn thấy vua, vua truyền là không phải làm lụng vất vả nữa, một ngày gân đây vua sẽ về và đưa cả bà con đi. Nếu ai không nghe theo lời vua thì sẽ có những trận mưa to, gió lớn, lụt lội chết hết". Đó là luận điệu của những phần tử bất mãn như Sùng Lão Dê, Sùng Lão Phua..., chúng tiến hành các hoạt động "xưng vua đón vua " nhằm kích động đồng bào di cư sang Lào, thành lập " khu tự trị Mông ". Xác định đây là vấn đề phức tạp liên quan đến chính sách dân tộc của Đảng, để đối phó với tình hình trên, lực lượng Công an đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc gặp gỡ, giáo dục thuyết phục. Lợi dụng mê tín lạc hậu bằng hình thức lên đồng, Sùng Lão Dê tiếp tục tụ tập dân bản lên đồng, hút thuốc phiện suốt ngày đêm. Tác hại về chính trị, kinh tế do Sùng Lão Dê gây ra trong vụ này đặc biệt nghiêm trọng, Tỉnh ủy đã phân công những cán bộ có năng lực trực tiếp lên chỉ đạo giải quyết, ổn định tình hình, đưa hàng hóa, lương thực, gia súc lên trợ cấp cho đồng bào. Đầu năm 1958, hội nghị TW lần thứ 14 đã đề ra kế hoạch 3 năm ( 1958 - 1960 ) cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tỉnh ủy đã khảo sát và chỉ đạo xây dựng hợp tác xã nông nghiệp thí điểm ở Hạ Bì, từ đó rút kinh nghiệm nhân ra toàn tỉnh.
          Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ 3 họp từ 19 - 5 đến 25-5-1959 đã đề ra chủ trương kết hợp hợp tác hóa với cải cách dân chủ. Đây là một cuộc vận động có quy mô và yêu cầu rộng lớn, quan trọng nhằm xây dựng và mở rộng phong trào hợp tác hóa tiến kịp với phong trào cách mạng chung của miền Bắc, thủ tiêu những tàn tích bóc lột, phong kiến, giáo dục nâng cao giác ngộ giai cấp, xác định ranh giới rõ ràng giữa bóc lột và lao động, giữa địa chủ và nông dân; giải quyết tốt những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; giáo dục chính sách dân tộc của Đảng, củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, đoàn thể, công an, dân quân, phát triển đảng viên, bài trừ dần những tàn tích văn hóa lạc hậu.
          Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III ( 9-1960 ) đã xác định nhiệm vụ chung của cách mạng nước ta là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới. Để phá hoại công cuộc xây dựng chỉ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã phát động cuộc chiến tranh biệt kích ra miền Bắc. Trong cuộc mít tinh của đồng bào Hòa Bình chào đón Bác Hồ về thăm vào tháng 8-1962, Bác đã căn dặn : " Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thì bọn Mỹ - Diệm không muốn cho ta thành công. Chúng âm mưu phá hoại ta bằng nhiều cách. Chúng còn bịa đặt tin đồn nhảm, phá hoại tinh thần nhân dân ta. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân ta phải cảnh giác để đập tan âm mưu phá hoại của chúng”. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, quân dân Hoà Bình đã lập sẵn các phương án tác chiến. Với tinh thần cảnh giác cao, đêm 20-2-1962, quân và dân xã Tử Nê đã phát hiện một toán biệt kích nhảy dù xuống địa bàn xã. Lập tức, quân và dân Hoà Bình phối hợp cùng bộ đội chính quy triển khai lực lượng chiến đấu. Chỉ sau 58 giờ truy lung, toán biệt kích gồm 5 tên đã bị bắt gọn. Đó là thắng lợi đầu tiên của quân và dân Hoà Bình góp phần làm thất bại chiến tranh bằng gián điệp, biệt kích nhằm phá hoại miềnBắc của đế quốc Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn.
          Đến khoảng giữa những năm 60 củathế kỷ XX, phong trào cách mạng kiên cường của nhân dân miền Nam đã đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - nguỵ. Nguỵ quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ đưa quân vào trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam với chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Đế quốc Mỹ đổ quân vào miền Nam và phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc. Ngày 5-8-1964, theo lệnh của Tổng thống Giônxơn, không quân, hải quân Mỹ mở nhiều đợt tấn công bắn phá các căn cứ ở miền Bắc: cửa sông Gianh (Quảng Bình), vùng Cửa Hội - Bến Thuỷ (Nghệ An), cửa Lạch Trường (Thanh Hoá), vùng vịnh Hạ Long - Hòn Gai (Quảng Ninh). Quân và dân ta đã đánh trả quyết liệt và chiến thắng vẻ vang:bắn rơi 8 máy bay phản lực, bắn hỏng 3 máy bay khác và bắt sống phi công Mỹ,trung uý Anvơrết. Đất nước đứng trước tình hình mới: cả nước có chiến tranh.Nhạy bén với tình hình thời cuộc, vớitinh thần cảnh giác cao và dựa trên các chỉthị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷHoà Bình đã tổ chức Hội nghị lần thứnăm, vào tháng 1-1965, tổng kết kế hoạchnăm 1964 và quyết định nhiệm vụ năm1965. Hội nghị nhấn mạnh phải tập trung lực lượng hoàn thành kế hoạch năm 1965. Đồng thời, trong tình hình mới, Tỉnh uỷ đã nhận định: “Tỉnh Hoà Bình là một tỉnh miền núi gần Thủ đô, có nhiều đầu mối giao thông đi các tỉnh, có vị trí chiến lược quan trọng. Kẻ địch sẽ chú ý đánh phá nhiều...”. Trên thực tế, địa bàn Hoà Bình là một trong những khu an toàn của trung ương, có nhiều tổng kho dự trữ của Nhà nước và đang là bãi tập của quân chủ lực tăng viện cho miền Nam. Do đó, Hoà Bình sẽ là một trọng điểm để địch bắn phá khi địch mở rộng chiến tranh phá hoại.Với nhận định đó, nhân dân Hoà Bình tích cực tăng cường lực lượng vũ trang, củng cố dân quân tự vệ, sẵn sàng đánh trả giặc Mỹ trong bất cứ tình huống nào; tăng cường công tác an ninh, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân; đảm bảo giao thông thông suốt trong điều kiện chiến tranh. Nhận định của Tỉnh uỷ Hoà Bình được Hội nghị Trung ương Đảng tháng 3-1965 soi sáng thêm. Hội nghị Trung ương khẳng định: “Miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn”. Nhiệm vụ đặt ra là: “Tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại... ra sức động viên lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam, ra sức giúp đỡ cách mạng Lào”. Quán triệt Nghị quyết Trung ương, tỉnh Hoà Bình đã cụ thể hoá các nhiệm vụ chuyển hướng xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cả nước có chiến tranh, cụ thể là tiếp tục xây dựng kinh tế - văn hoá xã hội chủ nghĩa, vừa sản xuất tốt, vừa chiến đấu thắng lợi và động viên sức người, sức của chi viện cho đồng bào miền Nam.Vào cuối năm 1964, đế quốc Mỹ ngày càng tăng cường bắn phá Liên khu IV và leo thang chiến tranh ra miền Bắc. Đầu tháng 1-1965, Hội đồng quốc phòng nhà nước quyết định ra sức xây dựng lực lượng vũ trang bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và cáclực lượng hậu bị, sẵn sàng chiến đấu và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Quân dân Hoà Bình đã từng được tôi luyện, dày dạn trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Nhưng lần này, cuộc chiến đấu không phải diễn ra trên mặt đất, mà lại diễn ra trên bầu trời, chúng ta chưa có kinh nghiệm thực tế đánh trả những máy bay phản lực siêu âm hiện đại nhất của tên đế quốc đầu sỏ. Nhiệm vụ đặt ra đối với toàn Đảng, toàn dân ta là vừa chuẩn bị đánh giặc Mỹ, vừa tiến hành đúc kết kinh nghiệm kịp thời để đánh thắng chiến tranh phá hoại của chúng. Kinh nghiệm kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Hoà Bình giúp quân, dân Hoà Bình nhanh chóng chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, với một niềm tin tuyệt đối, sẵn sàng đánh thắng giặc Mỹ khi chúng xâm phạm bầu trời Hoà Bình. Thực hiện Quyết định của Hội đồng quốc phòng, vào đầu năm 1965, Hoà Bình đã bổ sung quân thường trực tỉnh, thành lập thêm 5 đại đội, trong đó có 4 đại đội công binh. Quân chủ lực tỉnh được trang bị pháo 37 ly. Lực lượng dân quân tự vệ ở các cơ quan, xí nghiệp, các xã được củng cố, những xã trọng điểm được trang bị thêm vũ khí tiểu liên, trung liên, đại liên, 12 ly 7. Năm 1965, số lượng dân quân tự vệ trong tỉnh lên đến 40.200 người, chiếm 14,38% dân số, trong đó có 23,6% là nữ. Lực lượng dân quân tự vệ các xã thường xuyên luyện tập bắn máy bay tầm thấp, cứu thương, phục vụ chiến đấu. Tính tổng số, lực lượng vũ trang trong tỉnh tăng 18 lần so với năm 1964. Ngày 3-5-1965, máy bay phản lực Mỹ F105 đã bắn rốc két xuống kilômét 90 quốc lộ 12A thuộc địa phận xã Ngọc Lương, huyện Yên Thuỷ, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng ác liệt trên địa bàn Hoà Bình, một trong 94 trọng điểm bắn phá tập trung của máy bay Mỹ. Quân và dân Hoà Bình đã đối mặt trực tiếp với sự phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ. Quân và dân Hoà Bình đã sẵn sàng chiến đấu. Các cơ quan, trường học, bệnh viện, xí nghiệp, kho tàng được sơ tán kịp thời. Tại các khu đông dân cư, người già, trẻ em được sơ tán vào rừng. Các tổ cứu thương, cứu hoả, cứu sập được thànhlập và luyện tập. Dọc theo các trục đường 6A, 12A, 12B, 15A, các khu trọng điểm, đông dân cư đều có hầm cá nhân, hầm tập thể, hào giao thông. Lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu được tăng cường. Toàn tỉnh thành lập 250 đội cấp cứu, 183 đội tải thương, 2.489 túi thuốc phòng không nhân dân, 250 tổ hoá học, 74 đội công binh sửa chữa đường, cầu, 147 đài quan sát báo động, 128 trận địa chiến đấu. Lực lượng dân quân tự vệ trong tỉnh lên tới 60.576 người. Nhiều đơn vị được trang bị trung liên, đại liên và 12 ly 7. Các vị trí quan trọng như Vụ Bản, Mãn Đức, Dốc Cun, thị xã Hoà Bình, Chợ Bờ, Suối Rút, các bến phà, đầu mối giao thông... đều xây dựng các trận địa, chiến hào, trực chiến ngày đêm. Đến năm 1967, tỉnh thành lập thêm 2 đại đội pháo cao xạ 37 ly, 1 đại đội cao xạ 12 ly 7. Tháng 4-1967, tỉnh thành lập 2 tiểu đoàn chủ lực tỉnh, trong đó xây dựng hoàn chỉnh một tiểu đoàn gồm 500 cán bộ, chiến sĩ để lên đường chi viện cho miền Nam. Quân, dân Hoà Bình đã chăng lưới lửa, kiên quyết đánh trả máy bay Mỹ một khi chúng xâm phạm bầu trời Hoà Bình.Và sự thử thách đầu tiên đã đến. Trong ba ngày 30, 31 tháng 5 và 1 tháng 6-1965, trên 100 lượt máy bay phản lực Mỹ chia thành nhiều tốp liên tiếp ném bom, bắn phá xã Liên Hoà và xã ÂnNghĩa thuộc huyện Lạc Sơn. Phối hợp chặt chẽ với quân chủ lực, dân quân tự vệ Liên Hoà, Ân Nghĩa và các xã lân cận như Vũ Lâm, Yên Lạc, Lạc Thịnh, Nông trường 2-9 đã đánh trả quyết liệt các đợt oanh kích của địch. Trong cuộc chiến đấu này, quân dân Hoà Bình đã lập công lớn. Vào chiều ngày 31-5, dân quân xóm Lục xã Liên Hoà đã dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay phản lực F105D. Đây là lần đầu tiên dân quân Hoà Bình bắn rơi máy bay phản lực bằng súng trường. Thắng lợi của dân quân xã Liên Hoà đã trả lời bằng thực tế câu hỏi: súng trường bộ binh có bắn được máy bay phản lực siêu âm không? Kinh nghiệm và bài học Liên Hoà được phổ biến rộng rãi trong toàn tỉnh, củng cố vững chắc niềm tin vào thắng lợi. Học tập dân quân Liên Hoà, ngày 29-4-1966, đội trực chiến xã Trung Thành, huyện Đà Bắc phục kích sẵn trên đồi 900 đã bắn rơi một máy bay F101. Tên thiếu tá phi công bị bắt sống. Chiến thắng của dân quân, tự vệ Trung Thành càng cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân, dân toàn tỉnh.
           Học tập Liên Hoà, Trung Thành, dân quân các xã đều tổ chức trận địa phục kích, ngày đêm trực chiến trên các đồi cao. Ngày 20-7-1966, đội trực chiến xã Thu Phong, huyện Kỳ Sơn đã dùng súng trường bắn rơi một phản lực F105. Máy bay bốc cháy thiêu sống cả tên giặc lái đại tá phi công. Ngày 30-4-1967, dân quân xã Mường Chiềng lại bắn cháy một phản lực F105 của Mỹ và bắt sống giặc lái. Một số trận đánh và thắng lợi nêu trên mang tính chất tiêu biểu cho tinh thần quyết chiến quyết thắng của lực lượng dân quân, tự vệ Hoà Bình. Cùng hiệp đồng chiến đấu với lực lượng dân quân, tự vệ là lực lượng quân chủ lực của tỉnh. Quân chủ lực của tỉnh là lực lượng chủ công, là quả đấm thép của tỉnh, được trang bị tương đối hiện đại, đã lập chiến công lớn. Tính từ ngày 3-5-1965 đến ngày 1-11-1968, quân và dân Hoà Bình đã đánh trên 1.000 trận, bắn rơi 39 1 máy bay Mỹ, bắt sống một số giặc lái, trong đó tự vệ, dân quân đã bắn rơi 4 chiếc bằng súng bộ binh. Bên cạnh những chiến công trên bầu trời là những chiến công trên mặt đất. Như trên đã nói, Hoà Bình là một trong những trọng điểm bắn phá của máy bay Mỹ. Việc giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm giao thông thông suốt là một mặt trận vô cùng quan trọng. Trong gần 4 năm chiến tranh, đế quốc Mỹ đã dội xuống địa bàn Hoà Bình hàng vạn tấn bom phá, bom bi, bom nổ chậm, bắn hàng ngàn tên lửa cày xới nát các tuyến đường giao thông 6A, 12A, 12B, 21A, phá huỷ các cầu cống, các tụ điểm giao thong, các bến phà để ngăn chặn mọi con đường tiếp viện ra tiền tuyến của dân ta. Thấy rõ âm mưu của địch, tỉnh Hoà Bình luôn coi trọng việc đảm bảo giao thông thong suốt là một mặt trận quan trọng. Lực lượng công binh liên tiếp được bổ sung, tăng cường. Mặt khác, tỉnh phát động phong trào: “ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân làm giao thông”, “ địch phá ta sửa ta đi”. Phong trào đó đã đem lại hai kết quả quan trọng: thứ nhất là đảm bảo giao thông phục vụ tiền tuyến được thông suốt, thứ hai là mở rộng mạng lưới giao thông trong tỉnh qua các đường tránh, đường dự bị, đường mới liên tỉnh, đường liên huyện, liên xã. Trên mặt trận giao thông, tiêu biểu cho tinh thần quyết thắng là 17 nữ chiến sĩ thuộc Cung giao thông Cầu Ốc, phụ trách 11 km đường, trong đó có 3 cầu. Chị em đã bám cầu, bám đường suốt ngày đêm, sửa cầu, đường, rà phá bom nổ chậm, chỉ đường cho xe đi an toàn. Trong suốt gần 4 năm chiến tranh, chị em là “những anh hùng ngã ba Đồng Lộc” của Hoà Bình. Là tỉnh miền núi, gồm nhiều dân tộc, dân số thưa thớt, sức phát triển kinh tế còn non yếu, nhưng Hoà Bình vẫn hết lòng, hết sức chi viện miền Nam với khẩu hiệu: “Thóc thừa cân, quân thừa người”. Hàng vạn thanh niên nam, nữ làm đơn tình nguyện nhập ngũ vào Nam chiến đấu, nhiều bà mẹ lấy máu viết đơn xin cho con đi chiến đấu. Trong 4 năm, Hoà Bình đã động viên trên một vạn thanh niên nam, nữ vào quân đội, đi chiến đấu ở chiến trường. Trong đó, ngoài việc bổ sung cho quân chủ lực, quân địa phương thì Hoà Bình đã tổ chức và huấn luyện 3 tiểu đoàn với 1.500 cán bộ và chiến sĩ trực tiếp bổ sung cho chiến trường miền Nam. Chiến công và những đóng góp to lớn của quân, dân Hoà Bình đã góp phần cùng nhân dân miền Bắc chiến thắng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ.
          Ngày 1-11-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn buộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom, bắn phá và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ năm 1968, sau khi chiến lược“chiến tranh cục bộ” bị phá sản, đế quốc Mỹ phải đương đầu với dư luận Mỹ cực lực phản đối cuộc chiến tranh hao người tốn của ở Việt Nam. Chính phủ Mỹ buộc phải thay chiến lược cũ, bắt đầu thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, nhằm rút dần quân đội Mỹ về nước; mở rộng chiến tranh ra Lào, Campuchia; lợi dụng mâu thuẫn Liên Xô - Trung Quốc hòng cô lập Việt Nam và hạn chế sự ủng hộ của các nước đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Với chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, đế quốc Mỹ đã trang bị cho ngụy quân Sài Gòn những vũ khí hiện đại nhất, đẩy nguỵ quân ra thế chân quân Mỹ tại các chiến tuyến và đương đầu với cuộc chiến đấu quyết liệt của quân và dân miền Nam. Sau gần 4 năm thực hiện, chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn. Nguỵ quyền Sài Gòn cấu xé nhau đang ngày càng sụp đổ. Để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của nguỵ quyền Sài Gòn, Chính phủ Mỹ đã lại nhảy vào chiến tranh. Ngày 6-4-1972, Tổng thống Mỹ Níchxơn ra lệnh huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân Mỹ đánh phá miền Bắc. Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ bắt đầu. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này, đế quốc Mỹ đã huy động đến mức cao nhất lực lượng không quân, hải quân Mỹ với những máy bay, tàu chiến hiện đại nhất lúc đó, gồm 1.117 máy bay chiến thuật (bằng 40% lực lượng không quân chiến thuật của Mỹ), 193 máy bay B52 (bằng 45% máy bay B52 của toàn nước Mỹ), 16 tàu chiến ( bằng 3/4 số tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ), trong đó có 6 tàu sân bay ( bằng50% số tàu sân bay của Mỹ ). Mục tiêu đánh phá lần này là toàn bộ miền Bắc, không trừ một địa điểm nào, kể cả các thành phố, thủ đô, điểm đông dân cư, trường học, bệnh viện. Tính chất ác liệt của chiến tranh phá hoại lần thứ hai hơn gấp nhiều lần cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.
          Ngày 11-4, Chính phủ ta ra tuyên bố vềcuộc chiến tranh phá hoại điên rồ lần thứhai của đế quốc Mỹ. Tuyên bố nhấn mạnh: nhân dân Việt Nam quyết đánh, quyết thắng và nhất định sẽ đánh bại hoàn toàn mọi bước phiêu lưu quân sự mới của giặc Mỹ, đánh bại hoàn toàn chính sách Việt Nam hoá chiến tranh. Nhân dân Hoà Bình, với tinh thần cảnh giác thường trực cao, đã sẵn sàng chờ giặc đến là nổ súng đánh trả quyết liệt, kiên quyết bắt sống giặc lái. Và chẳng phải chờ đợi lâu, ngày 10-5-1972, một máy bay bị bắn rơi, giặc lái nhảy dù xuống Lũng Vân, Bắc Sơn thuộc huyện Tân Lạc. Dân quân Lũng Vân đã kịp thời phát hiện, triển khai lực lượng vây bắt giặc lái. Mặc dù thời tiết mưa gió, nhân dân Lũng Vân và các xã lân cận vẫn kiên trì lùng sục, xiết chặt vòng vây, quyết bắt sống giặc lái. Ngày11-5, Mỹ sử dụng trên 120 lần chiếc máy bay phản lực, trực thăng thả hàng trăm tấn bom, bắn xối xả hàng ngàn quả tên lửa xuống trận địa bao vây của quân, dân Tân Lạc hòng làm nản ý chí chiến đấu của quân, dân ta, làm giãn trận địa để hòng cứu viên giặc lái. Nhưng quân, dân Lũng Vân và các xã lân cận kiên cường bám sát trận địa, xiết chặt vòng vây, đánh trả quyết liệt máy bay Mỹ đến cứu viện, đã bắt sống giặc lái với toàn bộ vũ khí và máy móc, trang bị. Liền sau đó, ngày 12-5, một máy bay F4 của Mỹ bị không quân ta bắn cháy. Tên giặc lái nhảy dù xuống xã Bắc Sơn, huyện Tân Lạc. Nhân dân Bắc Sơn, với kinh nghiệm phối hợp cùng nhân dân LũngVân bắt sống giặc lái ngày hôm trước, đã nhanh chóng tóm gọn tên giặc lái, thu toàn bộ vũ khí, thắng lợi của quân và dân Lũng Vân, Bắc Sơn đã nêu một tấm gương cổ vũ rất lớn toàn quân, toàn dân Hoà Bình quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Ngày 12-8-1972, một máy bay do thám không người lái xâm phạm vùng trời Lạc Thuỷ đã bị đội trực chiến xã Lạc Long bắn rơi ngay trên quê hương mình. Đại đội du kích Cù Chính Lan vừa hoàn thành nhiệm vụ từ tiền tuyến lớn trởvề, đã lập công xuất sắc, bắn rơi một phản lực F4 của giặc Mỹ. Tinh thần cảnh giác cao, thường trực chiến đấu của quân, dân Hoà Bình đã góp phần cùng toàn quân, dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai điên rồ của đế quốc Mỹ. Trong 12 ngày đêm quân dân ở Hà Nội đương đầu với trận “Điện Biên Phủ trên không”,quân và dân ở Hoà Bình đã liên tiếp lập chiến công lớn: bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống 5 giặc lái. Tiêu biểu cho ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược là cuộc chiến đấu suốt 9 ngày đêm, bất chấp mưa lớn, gió rét của quân, dân xã Hợp Hoà, huyện Lương Sơn. Bị bắn cháy trên bầu trời Hà Nội, hai giặc lái B52 và F111 bay về hướng Hoà Bình và nhảy dù xuống xã Hợp Hoà ngày 21-12. Dân quân Hợp Hoà lập tức phối hợp cùng quân chủ lực huyện triển khai xiết chặt vòng vây. Đế quốc Mỹ cho hàng trăm lần chiếc máy bay đến bắn phá, thả bom hòng giải vây và cứu hai tên giặc lái. Nhưng chúng đã bị thất bại trước tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm của quân, dân Lương Sơn. Ngày 29-12, hai tên giặc lái B52 và F111 đã bị bắt sống cùng vũ khí, trang thiết bị. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, quân, dân Hoà Bình đã anh dũng chiến đấu bắn rơi 10 máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái. Chiến công của quân, dân Hoà Bình đã góp phần cùng quân, dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của giặc Mỹ xâm lược. Ngày 30-12-1972, Tổng thống Mỹ Níchxơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, và ngày 27-1-1973, Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
          Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, cuối tháng 3-1973, tất cả các đơn vị quân viễn chinh Mỹ và một số nước chư hầu đã rút hết về nước. "Thế và lực của cách mạng miền Nam mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ 1954 đến nay". Miền Bắc bước vào thời kỳ ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn, tích cực đấu tranh thống nhất đất nước. Nhạy bén với tình hình mới, vào tháng 4-1973, Tỉnh uỷ Hoà Bình đã họp quyết định nhiệm vụ trước mắt của tỉnh là nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh,chuyển hướng các hoạt động từ thời chiến sang thời bình, đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo các yêu cầu tiêu dùng tại chỗ của nhân dân và chi viện miền Nam. Tháng 12-1973, sau khi nhận kế hoạch của Trung ương, tỉnh Hoà Bình đã đề ra nhiệm vụ cụ thể của các dân tộc Hoà Bình trong những năm tới là: “Phát huy cao độ tinh thần cách mạng tiến công, chủ động sáng tạo, tự lực cánh sinh của các cấp, các ngành để tích cực củng cố và phát triển kinh tế, văn hoá trong tỉnh, trọng tâm là các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp địa phương. Tích cực củng cố và phát triển giao thông vận tải để phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất; củng cố và phát triển các ngành giáo dục, y tế, văn hoá, kết hợp chặt chẽ việc phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng”. Chủ trương trên đã được cụ thể hoá thành các chỉ tiêu phấn đấu của các ngành trong tỉnh. Hoà Bình bước vào thời kỳ khôi phục với một cơ sở vật chất rất khiêm tốn. Hoà Bình tuy không còn bị giặc Mỹ bắn phá từ tháng 4 - 1968, nhưng những lực lượng trẻ khoẻ nhất đã rời tay cày, tay búa để cầm súng chiến đấu vẫn chưa thể gác súng để trở về với đồng ruộng, với nhà máy. Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân, dân Hoà Bình vẫn phải chắc tay súng, do vậy, chưa bổ sung được nhiều lực lượng lao động cho sản xuất. Trong những năm khôi phục kinh tế, Hoà Bình vẫn tích cực thực hiện khẩu hiệu “chắc tay súng” và hết sức chi viện miền Nam, hàng năm thực hiện tốt 4 kỳ tuyển quân và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, giữ truyền thống “thóc thừa cân”, “quân thừa người”. Nhân dân Hoà Bình khắc sâu trong lòng bài thơ chúc Tết cuối cùng của Bác Hồ:
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!
          Theo lời dạy của Bác, toàn thể dân tộc ta đã “đánh cho Mỹ cút” năm 1973, nhưng nguỵ quyền Sài Gòn chưa bị đánh nhào và Bắc - Nam chưa được sum họp. Vì vậy, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, tăng cường chi viện cho miền Nam ruột thịt vẫn là nhiệm vụ quan trọng của toàn quân, toàn dân ta. Hoà Bình vốn có truyền thống chuẩn bị sẵn sàng để đáp ứng yêu cầu về sức người và sức của cho chiến trường. Vì vậy, dù trong điều kiện hoà bình, tỉnh vẫn không ngừng củng cố lực lượng quân sự. Đến năm 1974, số lượng dân quân, tự vệ toàn tỉnh chiếm 10,22% dân số, trong đó dân quân tự vệ dân tộc Mường chiếm4,3%, dân tộc Thái chiếm 1,4%. Lực lượng dân quân, tự vệ vẫn duy trì kế hoạch thường xuyên luyện tập. Tỉnh đã phát động phong trào xây dựng “Đơn vị quyết thắng”, “Chiến sĩ quyết thắng” trong toàn lực lượng vũ trang địa phương. Cho đến năm 1975, toàn tỉnh có 386 đơn vị đạt danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”, trên 3.000 chiến sĩ thi đua, 29 chiến sĩ quyết thắng. Đây là sự chuẩn bị để một khi các chiến sĩ dân quân được động viên vào quân chính quy là có thể chiến đấu trực tiếp ngay. Trong ba năm từ năm 1973 đến ngày 30-4-1975, tỉnh đã thực hiện 9 đợt tuyển quân và giao quân vượt kế hoạch và thời gian, quân số có chất lượng. Đợt tuyển quân tháng 3-1975, Hoà Bình đã tiễn 553 chiến sỹ nhập ngũ, đạt 105,6% kế hoạch, là một trong 6 tỉnh miền Bắc đạt xuất sắc trong đợt tuyển quân năm 1975. Các huyện, thị đều nhận được bằng khen của Quân khu. Từ năm 1973 đến tháng 4-1975, trung bình mỗi năm có gần 3.000 thanh niên nam nữ Hoà Bình nhập ngũ vào Nam chiến đấu. Theo tài liệu tổng kết của Đảng bộ tỉnh Hoà Bình, từ năm 1970 đến năm 1975, nhân dân Hoà Bình đã tiễn đưa 2 tiểu đoàn, 9 đại đội bộ binh, 1 đơn vị du kích tập trung, 1 đội dân công hoả tuyến lên đường vào chiến trường B và chiến trường C (chiến trường Lào). Hàng trăm chiến sĩ con em các dân tộc Hoà Bình đã chiến đấu dũng cảm, đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Chiến sĩ thi đua”, “Anh hùng lực lượng vũ trang”. Hai liệt sĩ Bùi Văn Hợp, Bùi Văn Nên được tuyên dương“Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam”. Ngoài sức người, nhân dân Hoà Bình tuy nghèo nhưng tự nguyện thắt lưng buộc bụng, tiết kiệm để đóng góp cho Nhà nước. Năm 1972, các dân tộc Hoà Bình đã đóng góp nghĩa vụ lương thực vượt năm 1971 là 36%. Các năm sau đều vượt các năm trước. Lòng yêu nước của nhân dân Hoà Bình đã viết nên trang vàng truyền thống chống xâm lược, vì độc lập, tự do của các dân tộc Hoà Bình. Dù là một tỉnh nhỏ, dân không đông, đời sống còn nhiều khó khăn, nhưng nhân dân các dân tộc Hoà Bình đã đóng góp hết sức mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
          Có thể nói, thời kỳ 1972-1975, là thời kỳ ở miền Bắc vừa có chiến tranh vừa có hòa bình, từ thời bình chuyển sang thời chiến, từ thời chiến chuyển sang thời bình. Trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phương có nhiều thuận lợi nhưng đồng thời có không ít khó khăn, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh chuyển hướng kịp thời đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới. Vượt lên trên những khó khăn thử thách trong từng thời kỳ lịch sử, Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình đã tiến một bướcdài trên con đường xây dựng và phát triển kinh tế, làm tròn nhiệm vụ đối với tiền tuyến. Có hiểu hoàn cảnh cụ thể của tỉnh trong giai đoạn 1972-1975 mới thấy hết ý nghĩa của những thành tựu mà quân và dân các dân tộc đã giành được. Những thành tựu đó góp phần quan trọng để xây dựng Hòa Bình thành một tỉnh giàu về kinh tế, vững về chính trị, văn minh lịch sử và văn hóa - một trong những cửa ngõ quan trọng của Thủ đô Hà Nội.
          Ba mươi năm (1945-1975), một chặng đường ngắn ngủi so với lịch sử chung của cả dân tộc, nhưng đây là chặng đường đấu tranh cách mạng quyết liệt để bảo vệ nền độc lập, bảo vệ chế độ mới của Đảng ta, nhân dân ta, trong đó có Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình. Trong chặng đường lịch sử này, cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Hòa Bình đã không ngừng vươn lên về mọi mặt, nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lập, tự cường, đoàn kết chặt chẽ, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi khó khăn thử thách cùng cả dân tộc, lập nên những kỳ tích đáng tự hào trong sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Thành tựu trên chặng đường lịch sử 1945-1975 là kết quả được đổi bằng mồ hôi, công sức và cả máu của bao đồng bào, đồng chí. Với những thành tựu trong 30 năm, với sức mạnh truyền thống và những kinh nghiệm quý báu tích lũy được, Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình sẽ vượt qua mọi khó khăn gian khổ, giành được những thắng lợi rực rỡ trên từng bước đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
8.những sự kiện tiêu biểu trong lịch sử 130 năm của tỉnh Hòa Bình(phần 4):
 HOÀ BÌNH SAU NGÀY THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC:
 Với Đại thắng mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã kết thắng lợi. Một kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạngViệt Nam đã mở ra: kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, lại phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh liên miên nên càng nặng nề và gian nan hơn. Nói một cách khác, tình hình đất nước sau đại thắng mùa xuân năm 1975 có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có rất nhiều khó khăn, phức tạp, nhất là hậu quả chiến tranh mà chúng ta chưa lường hết được. Để xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước mắt nhân dân ta phải nỗ lực khắc phục hậu quả của 20 năm chiến tranh, ổn định và khôi phục kinh tế - văn hóa, hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Chuẩn bị cho công việc trọng đại đó, từ tháng 2-1976, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tiến tới cuộc. Tổng tuyển cử được triển khai ở tất cả các địa phương. Ngày 25-4-1976, nhân dân khắp hai miền Bắc - Nam nô nức tham gia Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Ngày 24-6-1976, Quốc hội của nướcViệt Nam thống nhất, được gọi là Quốc hội khóa VI, với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khóa Quốc hội trước, họp kỳ đầu tiên tại Hà Nội. Quốc hội Quyết định đặt tên nước Việt Nam thống nhất là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua chính sách đối nội, đối ngoại, bầu các cơ Quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của Nhà nước, Quy định các nguyên tắc xây dựng bộ máy chính Quyền các cấp, Quốc kỳ, Quốc ca, bầu Uỷ ban Dự thảo Hiến pháp...Đặc biệt, trong khí thế chiến thắng hào hùng, Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IV họp tại Thủ đô Hà Nội (12-1976) đã gây niềm tin tưởng, phấn khởi trong toàn Đảng, toàn dân. Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IV đã đề ra đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta một cách sáng tạo: "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy Quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa,trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt”. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra những nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm (1976-1980) nhằm "hai mục tiêu cơ bản cấp bách: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" và "không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn An ninh chính trị và trật tự xã hội". Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình được hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình. Ngay từ cuối năm 1975 ( từ ngày 22 đến ngày 27-12-1975), được sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Đảng, Đảng bộ hai tỉnh đã chuẩn bị và tiến hành việc hợp nhất tỉnh nhanh gọn, đạt kết quả tốt. Việc sắp xếp bộ máy và cán bộ sớm ổn định, bảo đảm mọi hoạt động liên tục, tạo được sự đoàn kết nhất trí và tin tưởng, phấn khởi trong toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc. Một số huyện trên địa bàn Hoà Bình không nằm trong diện hợp nhất nên không có sự xáo trộn ở cấp huyện và cấp xã. Ngay sau khi được Trung ương chỉ định, Ban Tỉnh ủy Hà Sơn Bình đã mở Hội nghị lần thứ nhất (3-1976) kịp thời đề ra Nghị Quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa năm 1976. Do đó, công tác và sản xuất của các cấp, các ngành được đẩy mạnh, bước đầu phát huy được ưu thế của mỗi vùng, kết hợp và hỗ trợ giữa cácvùng. Tỉnh Hà Sơn Bình ra đời theo yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng đáp ứng nguyện vọng và tình cảm của Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh vốn có quan hệ gắn bó lâu đời trong đời sống và sản xuất, nhất là trong đấu tranh cách mạng qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ. Tỉnh hợp nhất Hà Sơn Bình sẽ kết hợp và phát huy được nhiều ưu thế, tạo nên thế mạnh mới to lớn và phong phú hơn trên bước đường đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Mùa xuân năm 1976 trở thành mốc lịch sử của tỉnh hợp nhất. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh tin tưởng, phấn khởi lập thành tích chào mừng tỉnh mới. Trong không khí vô cùng phấn khởi, Tỉnh uỷ và nhân dân Hà Sơn Bình hăng hái thi đua lao động sản xuất, tập trung mọi nỗ lực quyết giành vụ mùa 1976 thắng lợi vượt bậc và thực hiện vượt mức kế hoạch sản xuất năm 1976 theo Nghị Quyết Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ nhất đề ra, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IV. Về sản xuất nông nghiệp, tỉnh đã mở các cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến Quản lý theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, hoàn chỉnh thủy nông, giao đất giao rừng cho hợp tác xã, xây dựng vùng kinh tế mới, cố gắng khắc phục nhiều khó khăn về thiên tai, bảo đảm diện tích và tăng sản lượng. Kết quả là vụ xuân đạt sản lượng cao nhất. Tổng sản lượng lương thực tăng 8% so với năm 1975. Lâm nghiệp được thúc đẩy và có tiến bộ. Công nghiệp, thủ công nghiệp, đạt 106,39% kế hoạch, tăng 18,4% so với năm 1975 và có nhiều chuyển biến trong phục vụ nông nghiệp. Đóng góp về lương thực, thực phẩm có nhiều cố gắng; về lương thực đã hoàn thành vượt mức khá cao, tăng 52% so với năm trước... Công tác tuyển quân được hoàn thành gọn trong một đợt, vượt chỉ tiêu kế hoạch cả nước. Lực lượng dân quân tự vệ và bộ đội địa phương được củng cố và tiếp tục lớn mạnh, vừa rèn luyện sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế.
Công tác văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống tiếp tục phát triển và có một số mặt tiến bộ. Nhìn chung, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng hơn các năm trước. Có thể nói, trong năm đầu hợp nhất tỉnh, tuy hậu quả chiến tranh còn nặng nề, lại gặp thiên tai nặng, những kết quả nêu trên là một cố gắng to lớn của Đảng bộ và nhân dân Hà Sơn Bình trên nhiều mặt. Từ giữa năm 1976, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Ban Tỉnh ủy chỉ đạo chặt chẽ và đạt kết quả tốt Đại hội vòng 1 các cấp đảng bộ từ cơ sở đến huyện. Tháng 11-1976, Đại hội Đảng bộ tỉnh vòng 1 khai mạc tại thị xã Hà Đông với gần 600 đại biểu thay mặt cho 7 vạn đảng viên. Đại hội thảo luận và đóng góp ý kiến với Trung ương về các văn kiện của Đảng, đồng thời cử đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn Quốc.Vào tháng 4-1977, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Sơn Bình lần thứ nhất vòng 2 họp từ ngày 21 đến ngày 30-4-1977. Được Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IV soi sáng, Đại hội Đảng bộ đã xác định phương hướng và nhiệm vụ chung của tỉnh là: "Tăng cường đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng bộ và toàn thể nhân dân các dân tộc, phấn đấu xây dựng Hà Sơn Bình thành tỉnh có cơ cấu công, nông, lâm nghiệp giàu đẹp và kiên cường cách mạng, góp phần tích cực vào việc xây dựng thành công Tổ Quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa". Để thực hiện phương hướng và nhiệm vụ đó, từ năm 1976 đến năm 1980, toàn Đảng bộ phải tập trung cao độ lực lượng các cấp, các ngành, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, trọng tâm là lương thực, thựcphẩm; đồng thời ra sức phát triển lâm nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và đẩy mạnh các mặt kinh tế khác. Sáu hướng tiến công của toàn Đảng bộ, toàn dân trong tỉnh là trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, công nghiệp và thủ công nghiệp, phân công lao động mới, hạ thấp tỷ lệ tăng dân số. Tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang địa phương vững mạnh, từng bước đi lên chính quy hiện đại, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc và tích cực tham gia xây dựng kinh tế. Về xây dựng Đảng, Đại hội nêu nhiệm vụ phải thường xuyên làm tốt cả hai mặt chính trị tư tưởng và tổ chức nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu về nhiệm vụ mới, trong hai năm tới phải giải quyết về cơ bản những cơ sở Đảng yếu kém, đưa các cơ sở trung bình trở thành khá. Đại hội cũng đề ra những biện pháp chủ yếu trong chỉ đạo mà động lực thúc đẩy là nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng, tăng cường lực lượng quản lý của bộ máy chính quyền, phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng. Đại hội đã lựa chọn dân chủ những đại biểu xứng đáng vào Ban Chấp hành Đảng bộ do một ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp làm Bí thư. Cơ cấu của Ban Chấp hành mới của Đảng bộ phản ánh sự quan tâm của trung ương và vị trí của Đảng bộ trong tình hình nhiệm vụ mới. Kết quả của Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất biểu hiện sự đoàn kết nhất trí cao, đánh dấu một bước trưởng thành của Đảng bộ sau một năm hợp nhất, tạo ra những thuận lợi mới, bước phát triển mới, tạo cơ sở để toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, đưa sự nghiệp cách mạng ở địa phương tiến lên. Quyết tâm thực hiện Nghị Quyết của Đại hội Đảng bộ, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh hăng hái phát huy tinh thần cách mạng tiến công, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa hùng mạnh. Trên cơ sở xác định đường lối chung, đường lối xây dựng kinh tế, Đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ IV của Đảng đã quyết định phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976-1980 là  vừa phải giải quyết hậu quả nặng nề của chiến tranh, vừa phải tổ chức lại nền kinh tế, xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà. Với hai mục tiêu cơ bản và cấp bách của kế hoạch 5 năm đầu tiên là: xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội chủ nghĩa, hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới trong cả nước và cải thiện một bước đời sống của nhân dân lao động. Nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu trên, trong kế hoạch 5 năm 1976-1980, nước ta tiến hành củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung của cả nước. Dưới ánh sáng của Nghị Quyết Đại hội IV của Đảng, Tỉnh ủy đã liên hệ kiểm điểm tình hình nông - lâm nghiệp trong tỉnh thời gian qua, đánh giá đúng đắn những thắng lợi đã đạt được, những vấn đề còn tồn tại và đã đề ra chủ trương, biện pháp đưa sản xuất nông - lâm nghiệp tỉnh nhà lên một bước nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1976-1980. Tỉnh ủy khẳng định phong trào cách mạng của tỉnh đã giành được nhiều thắng lợi lớn trong mấy chục năm qua, trong đó, thắng lợi cơ bản và to lớn là đã sớm thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp. Tỉnh ủy xác định nhiệm vụ hàng đầu của tỉnh trong những năm tới là: “ Ra sức phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp, trọng tâm là giải quyết cho được vấn đề lương thực và thực phẩm, tạo điều kiện vật chất thuận lợi để thực hiện cùng một lúc hai yêu cầu cơ bản và cấp bách là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân". Chúng ta phải có quyết tâm lớn tập trung lực lượng toàn tỉnh tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông, lâm nghiệp nhằm đạt 3 mục tiêu:
1. Bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong tỉnh (kể cả chăn nuôi ),đóng góp nhiều hơn cho Nhà nước và có phần dự trữ.
2. Cung ứng đủ nguyên liệu nông, lâmsản cho công nghiệp chế biến tơ tằm, mía, thuốc lá, rau quả hộp, chè, thức ăn gia súc, cây làm thuốc... tiến tới tự túc đủ nguyên liệu cho sản xuất thủ công nghiệp chế biến để xuất khẩu.
3. Tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu về nông, lâm sản và mây tre đan, mỹ nghệ...Phấn đấu kế hoạch 5 năm tạo cho được sự chuyển biến cơ bản trong nông - lâm nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, với trình độ tập trung hóa, chuyên môn hóa, hợp tác hóa, cơ giới hóa... ngày càng cao, cơ sở vật chất ngày càng tiến bộ.
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhân dân Hoà Bình đã có những đóng góp đáng kể cho nền công nghiệp hoá nước nhà. Trong đó, đóng góp quan trọng nhất của nhân dân Hoà Bình trong 15 năm hợp tỉnh là những đóng góp lớn về sức người, sức của vào công trình Thuỷ điện Hoà Bình. Thuỷ điện Hoà Bình là một trong những nhà máy thuỷ điện có quy mô lớn, thiết bị hiện đại, có chức năng tổng hợp các nhiệm vụ: chống lũ, phát điện, tưới tiêu và đảm bảo giao thông thuỷ. Tuy đất nước còn trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 24-6-1971, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định xây dựng Nhà máy thủy điện sông Đà. Công trình xây dựng thủy điện sông Đà là một công trình lớn của thế kỷ XX, mang lại ánh sáng cho đất nước, với 8 tổ máy, 2 đường hầm xả lũ, 1 đập ngăn nước chính cao 128 m, dài 640 m, chân đập dày 820 m, đập tràn cao 70 m, làm từ 46 vạn mét khối bê tông. Để có đập ngăn nước chính, ngành xây dựng đã huy động hàng ngàn công nhân đào đắp 5,8 triệu mét khối nền đất, 23 triệu mét khối nền đá, đắp 26 triệu mét khối đất đá cát sỏi. Tổng cộng các loại đường hầm dàikhoảng 20 km. Số thiết bị máy móc lắpđặt là 48.000 tấn. Công trình được dựng lên cùng với hàng trăm khu nhà ở, nhà làm việc, nhà ăn, nhà khách, nhà trẻ... với khoảng 30.000 người làm việc thường xuyên trên công trường. Công trình hoàn thành là thành tựu vẻ vang chung của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, của các bộ, ngành, địa phương thường xuyên chỉ đạo, theo dõi, chi viện, đặc biệt trong đó phải ghi nhận sự đóng góp, giúp đỡ vô cùng to lớn và những cống hiến vô giá của nhân dân các dân tộc Hòa Bình cho đường điện của Tổ Quốc. Quá trình xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (1978) và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc (1979), nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn. Từ những đặc điểm trên, nhiệm vụ phục vụ và bảo vệ an toàn tuyệt đối công trình thủy điện sông Đà trong suốt 15 năm (1976-1991) là hết sức nặng nề đối với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Ngay những ngày đầu nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hòa Bình đã tạo điều kiện tốt nhất để các đoàn cán bộ địa chất đặt những mũi khoan thăm dò cho việc khởi đầu xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình. Cũng trong những năm này, hàng chục cán bộ nhân dân của thị xã Hòa Bình đã tiến hành việc di dời nơi cư trú để phục vụ cho công trình tương lai. Tháng 1-1976, Trung ương Đảng giao cho tỉnh Hà Sơn Bình phải phục vụ tốt nhất cho công trình thủy điện Hòa Bình, với các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Giải phóng mặt bằng cho công trườngthi công và chuyển dân ở các huyện ĐàBắc, Mai Châu, Kỳ Sơn, Tân Lạc và thị xãHòa Bình ra khỏi khu vực mặt bằng côngtrường và khu vực lòng hồ sông Đà theođúng tiến độ.
- Góp phần tích cực phục vụ đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân Việt Nam và chuyên gia Liên Xô trên công trường.
- Có phương án bảo vệ an toàn tuyệt đối cả về kinh tế, kỹ thuật, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Ngày 28-8-1979, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Sơn Bình đã họp để kiểm điểm việc thực hiện công tác chuẩn bị cho khởi công công trình thủy điện Hòa Bình và bàn biện pháp thi hành Chỉ thị 248/TT của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác chuẩn bị để khởi công công trình đúng vào dịp Cách mạng Tháng Mười Nga.
Ngày 15-9-1979, Thủ tướng chính phủ Thủ tướng chính phủ ra Chỉ thị số 315-CT/TTg về việc chuẩn bị và tổ chức lễ khởi công xây dựng công trình thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà. Thủ tướng chính phủ yêu cầu các bộ, tổng cục, các địa phương làm tốt các công việc đã được phân công để khởi công xây dựng công trình thuỷ điện Hoà Bình vào ngày 07-11-1979. Đúng 10 giờ ngày 06-11-1979, đồng chí Lê Thanh Nghị, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng chính Phủ nổ mìn, chính thức phát lệnh khởi công xây dựng thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà. Phát biểu tại lễ khởi công, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị phát biểu: “ Công trình thuỷ điện Hoà Bình có vị trí đặc biệt quan trọng với sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN của Việt Nam”.
Thực ra, ngay từ năm 1976 và nhất là từ khi có Nghị Quyết 65 của Tỉnh ủy, toàn tỉnh đã quán triệt sâu rộng về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng về chủ trương xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình của Đảng và Nhà nước ta đến toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, gây được niềm phấn khởi, tự hào, vinh dự. Qua đó xác định được trách nhiệm, phân tích việc đóng góp phục vụ xây dựng và bảo vệ công trình. Công tác chuyển dân, giải phóng mặt bằng công trường, giải phóng lòng hồ sông Đà được xác định là một hạng mục quan trọng của công trình thủy điện Hòa Bình, có khối lượng lớn, có tiến độ chặt chẽ, được tiến hành trên địa bàn rộng lại trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống, tâm tư, tình cảm, phong tục tập quán của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Trước ngày khởi công công trình, trong nhiều tháng, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Ban Công tác sông Đà của tỉnh Hà Sơn Bình cùng chính quyền các cấp trong tỉnh đã giới thiệu mục đích, ý nghĩa và tác dụng xây dựng công trình, để nhân dân thấy rõ trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp cho công trình thế kỷ này. Việc dời nơi cư trú của nhân dân các huyện Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Kỳ Sơn và thị xã Hòa Bình là một cuộc đấu tranh tư tưởng và tâm lý rất lớn, có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân các dân tộc, không ít người có tâm trạng hoang mang lo lắng. Đặc biệt, đối với đồng bào Mường, việc di chuyển mồ mả theo phong tục tập quán là không thể làm được. Khó có thể kể hết những khó khăn mà đồng bào các dân tộc Hòa Bình phải trải qua khi đóng góp, cống hiến cho việc giải phóng mặt bằng, lòng hồ công trình. Vì lợi ích xây dựng nhà máy thuỷ điện cho cả nước, vì sự ích nước lợi nhà, hàng ngàn gia đình đồng bào dân tộc Dao, Mường sống ở vùng lòng hồ sông Đà đã sẵn sàng chuyển đi, cống hiến những ngôi nhà, mảnh ruộng, nương quen thuộc gắn bó từ ngàn đời để đến những nơi định cư mới. Để phục vụ cho tiến trình xây dựng thuỷ điện, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà Sơn Bình đã nêu những nhiệm vụ cụ thể của nhân dân trong tỉnh là:
1. Thực hiện chính sách di dời dân ở vùng lòng hồ.
2. Quy hoạch vùng chuyên canh rau rộng lớn, cung cấp thực phẩm cho công trường.
3. Khai thác nguồn lâm nghiệp và đất đai ở vùng lòng hồ trước khi nước dâng,chủ yếu là trồng sắn.
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, của các cấp, các ngành, các địa phương, của cán bộ cơ sở đi thăm dò thực địa nơi ở mới, nhất là tinh thần nhiệttình cách mạng cao độ của nhân dân cácdân tộc Hòa Bình, công tác di dời dân được tiến hành nhanh gọn, bảo đảm đúng tiến độ thi công. Thị xã Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn là những địa phương mở đầu cho việc thực hiện công tác chuyển dân, giải phóng mặt bằng, đã có nỗ lực vượt bậc trong việc tuyên truyền, động viên quần chúng nhân dân nhường nhà cửa, đất đai, ruộng vườn cho công trình. Công tác này được tiến hành trong nhiều đợt: Trong 3 năm 1976-1979, công tác này được tiến hành thuận lợi, nhanh gọn. Có16 cơ Quan, trường học, 500 hộ dân, 1.797mồ mả được di chuyển, bàn giao cho côngtrình 1.000 ha. Đến cuối năm 1981, về cơ bản đã di chuyển xong 540 hộ dân, 36 đơn vị, cơ quan, trường học, 2.883 mồ mả... để cấp và bàn giao cho công trình 1.027 ha đất xây dựng cả bờ trái và bờ phải. Theo số liệu thống kê năm 1976, công tác chuyển dân, giải phóng mặt bằng công trường và lòng hồ sông Đà là 3.526 hộ, trong đó có 540 hộ tại mặt bằng và 2.896 hộ ở vùng ngập lòng hồ. Qua 3 lần điều tra phát sinh ở lòng hồ sông Đà ( năm 1983: 441 hộ, năm 1987: 546 hộ và năm 1990: 50 hộ), tổng số hộ phải di chuyển là 4.596 hộ, trong đó vùng ngập lòng hồ sông Đà là 4.023 hộ, riêng huyện Đà Bắc là 2.930 hộ, với 18.400 nhân khẩu, di chuyển 7.987 mồ mả.
Tính đến năm 1992, tổng diện tích đất đai các loại phục vụ cho công trình thủy điện sông Đà (mặt bằng công trình và hồ chứa nước) là 12.934 ha, riêng vùng ngập lòng hồ là 11.894 ha. Trong quá trình giải phóng mặt bằng vào lòng hồ sông Đà, một khối lượng to lớn tài sản nhà cửa, công trình của nhân dân, của tập thể, của Nhà nước phải di chuyển hoặc bỏ lại là 519.661 m², cụ thể:
- Tài sản của hộ dân: 219.000 m² nhà ở, 199.000 m² chuồng trại.
- Trường học, trạm xá: 34.000 m².
- Nhà kho, chuồng trại hợp tác xã: 19.533 m².
- 234 km đường giao thông, 18 công trình hồ, đập, trạm bơm...
Cùng với những đóng góp, hy sinh có thể tính bằng con số, còn có cả những hy sinh thầm lặng vô giá, thiêng liêng của nhân dân các dân tộc Hòa Bình đối với công trình thế kỷ của đất nước như việc phải di chuyển mồ mả cha ông.... và còn rất nhiều ngôi mộ vì khó khăn nên vẫn phải nằm lại dưới làn nước xanh của lòng hồ.
Tuy vậy, công tác đền bù di chuyển và quy hoạch xây dựng nơi ở mới để nhân dân ổn định đời sống và sản xuất vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Đời sống của hầu hết số hộ sau khi di chuyển đã gặp nhiều khó khăn, các mặt y tế, giáo dục, văn hóa đều chậm phát triển.
Sau 15 năm xây dựng ( từ 7-11-1979 đến 20-12-1994 ), Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình chính thức hoàn thành đưa vào vận hành 8 tổ máy. Cho đến nay, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình đã sản xuất hơn 90 tỷ KWh điện, chiếm gần 30% tổng sản lượng điện quốc gia hàng năm . Bên cạnh đó, công trình đầu mối thuỷ điện Hoà Bình còn góp phần ngăn lũ cho đồng bằng sông Hồng, tạo điều kiện cho việc phát triển nông-lâm-công-nghiệp và du lịch ở khu vực lòng hồ. Ngoài những lợi ích về kinh tế, công trình xây dựng thủy điện Hoà Bình còn là trường học lớn bồi dưỡng nhận thức, nâng cao trình độ khoa học – kỹ thuật cho đông đảo công nhân Việt Nam. Thông qua quá trình lao động, tình đoàn kết giữa những người lao động Việt Nam và Liên Xô được thắt chặt. Có thể nói, công trình thuỷ điện Hoà Bình là bông hoa tươi thắm tình hữu nghị Việt – Xô. Với những thành tích đạt được, Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình là một biểu tượng của trí tuệ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, xứng đáng với danh hiệu cao quý – Anh hùng lao động mà Đảng và Nhà nước trao tặng. 
Những đóng góp lớn lao của nhà máy thuỷ điện Hoà Bình với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã khẳngđịnh chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt. Đó là chủ trương có tính chiến lược thể hiện tầm cao và chiều sâu trí tuệ của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, một loạt các nhà máy thuỷ điện lớn như: Yaly, Na Hang ( Tuyên Quang ), Tạ Bú ( Sơn La )…đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần vào công cuộc xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ XXI.
9.nét đẹp văn hóa lễ hội Đình Cổi của dân tộc Mường tại Bình Chân-Lạc Sơn-Hòa Bình:
 Nói về văn hoá dân tộc ở tỉnh Hoà Bình thì trước hết phải nói tới văn hoá của dân tộc Mường. Do những đặc điểm về lịch sử và vị trí địa lý cho nên người Mường còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hoá cổ truyền. Phần lớn đồng bào Mường vẫn ở nhà sàn, uống rượu cần và có nhiều sinh hoạt văn hoá cộng đồng trên nhà sàn. Truyền thống đạo đức gia đình giữ được những nét đẹp: Yêu trẻ, kính già, hiếu khách. Không những thế, người Mường nơi đây vẫn giữ được những lễ hội cổ truyền: Hội xuân Xéc bùa, hội Xuống đồng, hội cầu May, lễ Rửa lá lúa, lế Cơm mới... Trong các lễ hội không thể thiếu lễ hội Đình Cổi- nét văn hóa truyền thống của người Mường xưa.Lễ hội Đình Cổi được duy trì qua nhiều thế hệ, giờ đây đã trở thành một nét văn hóa truyền thống không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người Mường (Hòa Bình).
Vào ngày mồng 7 tháng Giêng theo lịch Mường (tức ngày mồng 8 tháng Giêng Âm lịch hàng năm), người dân xã Bình Chân ở huyện Lạc Sơn lại tổ chức lễ hội Đình Cổi. Chuẩn bị lễ hội nhân dân trong Mường đã họp nhau trước đó nhiều ngày để phân công công việc.Bà con nơi đây không còn nhớ lễ hội Đình Cổi có từ bao giờ, chỉ nghe các cụ già trong làng kể lại. Tương truyền, vào một ngày đẹp trời Quốc Mẫu đang dạy các cung nữ dệt vải trên cung đình, chợt Bà nghe thấy tiếng chim hót líu lo, tiếng suối chảy róc rách hòa quện vào nhau làm trong người cảm thấy thư thái. Bà đưa tay vén bức màn dệt bằng những dải mây hồng, nhìn xuống hạ giới thấy đất đai phì nhiêu màu mỡ, nhưng cuộc sống người dân ở đó thì vô cùng khổ cực. Thấy vậy, Bà liền cho gọi những người hầu cận xuống hạ giới để dạy cho dân cách làm ăn sinh sống. Khi xuống đến hạ giới, Quốc Mẫu liền giả trang thành dân thường để tìm hiểu cuộc sống của người dân. Quốc Mẫu cùng các Vua đi từ Ba Vì đến đồng Khậm Mu, xóm Cổi thì trời đã trưa, Bà dừng chân nơi đây tận mắt nhìn thấy cuộc sống khổ cực của nhân dân, Quốc Mẫu Hoàng Bà cùng các Vua liền dạy dân cách trồng trọt, khai phá ruộng nương. Vua Út, Vua Ả dạy cấy lúa trồng bông, dệt vải. Vua Cun, Vua Hai hướng dẫn dạy cách khai phá làm ruộng nương, Vua Cả là người trị thủy cho nước lũ khỏi ngập mùa màng, khi hạn hán thì đảo vũ để có nước cho hoa màu. Mẹ (Quốc Mẫu) là người chỉ dạy những điều hay lẽ phải ở đời.
Quốc Mẫu ngoài việc dạy cho dân cách trồng trọt chăn nuôi, dệt vải ra còn dạy nhân dân các trò chơi dân gian như: Bịt mắt bắt dê, chơi khăng, đè khà (vật nhau), ném còn, hát giao duyên, múa sắc bùa… Nhờ có Quốc Mẫu dạy dỗ, chỉ bảo cho nên cuộc sống nhân dân ngày một no đủ, cây cối, mùa màng tốt tươi. Sau một thời gian ở hạ giới chỉ bảo nhân dân biết cách làm ăn sinh sống Quốc Mẫu cùng các Vua và những người hầu cận đứng trên đỉnh núi "Khụ Bậy l" để từ đó bay về trời.
     Nhớ ơn công đức, lời dạy của Quốc Mẫu và các vua, người dân trong vùng đã lập Đình thờ cúng ở "Cổ Đang". Các nghi lễ thờ cúng đều theo nghi thức trang nghiêm kính cẩn của cung đình vua quan xưa. Ngày mở hội đình, khu vực này sặc sỡ cờ lọng, có long nghi, kiệu đòn sơn son thiếp vàng. Chuẩn bị lễ hội nhân dân trong Mường đã họp nhau trước đó nhiều ngày để phân công công việc. Mâm cúng các vị thần được chuẩn bị chu đáo với những sản phẩm truyền thống như xôi trắng, thịt trâu, rượu men lá và thức ăn chay như chuối luộc, đu đủ luộc, mía và các loại bánh.
 Lễ hội gồm hai phần chính: Phần "Lễ" và phần "Hội".
    Lễ hội được bắt đầu bằng một hồi trống để báo hiệu cho con cháu trong Mường về tụ họp ở đình làng. Nghi lễ đầu tiên là rước kiệu, có thầy mo đi đầu làm lễ, sau đó là đoàn khênh kiệu, cờ hội, đoàn cò ke ống sáo, đội múa chèo và đoàn sắc bùa. Tất cả đều ăn mặc theo đúng phong tục xưa.
Và Nghi lễ đầu tiên của lễ hội là nghi lễ rước sắc phong và rước thánh. Một hồi chiêng giục giã gióng lên, đội cồng, kiệu, nhạc bắt đầu xuất phát. Bài Chiêng đi đường được diễn tấu cùng tốp nhạc Sênh tiền, trống phách, tạo cho không khí buổi rước thật rộn ràng và linh thiêng. Tất cả đều ăn mặc theo đúng phong tục xưa.
Sau khi các thủ tục sắc phong và rước thánh đã hoàn tất, lễ khấn cầu được tiến hành. Bài chiêng "Dốn dến dài" cầu Vua và Quốc Mẫu Hoàng Bà ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi vang lên trong lời cầu khấn. Lúc này, chiêng được đánh lên liên hồi trong khi ông mo khấn.
      Phần lễ được tiếp tục với nghi thức cầu thổ công bằng bài chiêng “Dốn dến ngắn” cầu cho đất Mường yên lành.
Sau khi cầu thổ địa xong thì chuyển sang cầu thành hoàng với phần trình tấu của bài “Chiêng bồng” cầu thành hoàng ban cho dân bản cuộc sống vui vẻ, an lành. Trong lễ hội đình Cổi, khi ông mo khấn cầu thì cũng là lúc con trai xóm Cành biểu diễn các điệu múa Chèo Đình. Vì theo chuyện xưa những đứa trẻ chăn trâu ở xóm Cành gặp quốc Mẫu cùng hai con gái là vua út, vua cả từ Ba Vì về đến đồng Khâm Mụ, xã Bình Chân thì trời đã trưa, ba mẹ con ngồi nghỉ ăn cơm gói. Thấy trẻ trâu xóm Cành chia thành hai bên để chơi trò chơi, quốc Mẫu và các vua biến thành kẻ ăn xin rồi cùng tham gia môn nghệ thuật múa. Điệu múa đó, xóm Cành gọi là múa Chèo và được dân làng Cổi tổ chức vào dịp lễ hội hàng năm, với nội dung phản ánh về quá trình sản xuất nông nghiệp, hôn nhân gia đình và truyền dạy cho đời về đạo lý làm người.
Người dân không chỉ khấn lễ tại đình mà ở gia đình khi cúng tổ tiên cũng cúng luôn cả Hoàng Bà, thành hoàng Mường với lời tôn kính “Đền Khoông Lu cái sao, đền Khoông Lao cái sáng; Quốc Mẫu hoàng bà cao xa đức mẹ” và thỉnh mời cả vua Út, vua Ả, Thánh Tản núi Ba Vì, vua Cun, vua Hải ở đền Trắng, đền Vành về dự lễ.”
       Những năm hạn hán, lễ hội sẽ có thêm nghi lễ cầu mưa dân làng lập đàn thờ để cầu khấn Quốc Mẫu cùng tam vị Tản Viên Sơn Thánh làm mưa để giúp con người và mùa màng tươi tốt. Lễ được thực hiện tại Vó Đuống - Vó Cổi, là một dải đất đẹp ở chân núi Khụ Bậyl. Ở đây có một hòn đá giống con trâu nửa nằm, nửa ngồi, nghếch mõm lên trên mặt nước. Phần mõm nghếch lên có một lỗ thủng tựa như mũi con trâu. Hành lễ cầu mưa, người có chức vị cao nhất Mương trèo lên lưng trâu đá, tay cầm thừng, tay cầm mõ, rung liên hồi, miện hô to "mưa, mư, mưa". Tất cả dân Mường tỏa ra cánh đồng làm động tác té nước cho lúa mạ và hô "mưa rồi, mưa rồi".
        Ngoài ra còn có lễ Xuống đồng gọi là “Đậm bừa cắt”, "Rửa lá lúa mạ"...Hội còn có nghi lễ “Đổ cờ” vào đầu giờ chiều Mùng 9. Người ta vẽ một vòng tròn trên sân đình, các chức sắc Mường cho hạ đổ cột cờ, lá cờ ngả vào vòng tròn đó, đuôi cờ hướng về phía đình là điềm tốt, dân làng sẽ gặp may mắn, an vui.
       Xong phần "Lễ", phần hội được mở ra tưng bừng, náo nhiệt mà tiêu biểu là các màn múa sơ khai nguyên thuỷ, mô tả đời sống sinh hoạt vui tươi, lạc quan của dân Mường. Trong âm thanh rộn rã của bài cồng “Bông trắng bông vàng” hoà nhịp với dàn nhạc sênh tiền, trống, phách; các điệu múa bắt ếch, giáo roi, xỏ rề, đi cấy, kéo tiền và mặt mẻ... lần lượt được biểu diễn. Phần hội còn được tổ chức các trò như Đánh Mảng, Đánh Cù, Kéo Co, thi đấu bóng chuyền nam, nữa, Ném còn, giao lưu văn nghệ dân gian, trình tấu Cồng Chiêng, Thường Rang, Bộ Meẹng( hát giao duyên) cả trai và gái đều tham gia



 Sau đó buổi trưa hôm đấy, cả dân làng cùng nhau thịt trâu và nấu ăn rồi ăn uống  ngay tại khu vực gần đình gọi là lấy lộc, cầu may để tiếp tục cho buổi chiều.

     Lễ hội Đình Cổi không chỉ mang ý nghĩa truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" mà còn là dịp để cầu phúc, cầu mùa "trồng ngô bắp to; trồng lúa có bông dài, hạt chắc; nuôi "con cúi con ca" (con lợn, con gà) mau lớn; con cháu được khỏe mạnh, học hành tiến bộ; ra đường gặp bạn bè luôn hòa nhã; đi đường gặp bình an"... Vượt lên ý nghĩa tâm linh, Lễ hội Đình Cổi còn mang tính nhân văn sâu sắc, khuyên răn, nhắc nhở con cháu yêu lao động sản xuất, quý trọng thành quả của gia đình; sang năm mới mọi công việc phải hài hòa. Đó chính là những ước mơ, khát vọng rất đỗi bình dị trong mỗi con người chúng ta.
     Tiếng lành đồn xa, sau khi lễ hội được phục dựng, du khách khắp cả nước đã về để chiêm ngưỡng và hành hương ngày càng đông. Bà Hà Thị Ngọc - Phó Chủ tịch UBND xã Bình Chân cho biết: Mùa lễ hội năm 2013, Đình Cổi đã đón trên 1 vạn lượt du khách và đến năm 2015 số lượt khách đến tăng lên rất nhiều lần.
      Tổ chức Lễ hội Đình Cổi là lễ hội văn hóa truyền thống kết hợp với hoạt động văn hóa thể thao và du lịch, nhằm bảo tồn giữ gìn và phát huy những giá trị di sản văn hóa dân tộc, gắn kết với di tích lịch sử văn hóa, là góp phần lập thành tích thi đua chào mừng các sự kiện chính trị và phát triển văn hóa - xã hội của huyện Lạc Sơn và địa phương. Đồng thời tăng cường quảng bá giới thiệu về lịch sử tiềm năng văn hóa và du lịch của vùng đất Mường Lạc Sơn, nơi vẫn được người dân bảo tồn, giữ gìn và phát huy được những giá trị của di sản văn hóa dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình.
      Ngoài lễ hội cổ truyền nói trên, Bình Chân còn là nơi cho du khách chiêm ngưỡng một quần thể núi hùng vĩ lập thành Thung Cổi rộng lớn đến hàng trăm héc ta. Nơi đây còn có nhiều cây con, muông thú, tiếng suối chảy róc rách cùng gió núi vi vu ngân vút lạ khó tả... tất cả quyện với khí thiêng trời - đất thành những âm thanh chắc chắn sẽ không phải trong những ai đã từng đến đây hành hương, du ngoạn thưởng thức.
10.văn hóa Hòa Bình (phần 19) văn hóa dân tộc Dao:
Một kiểu kiến trúc nhà ở của người Dao
Nhà ở:
          Kiến trúc nhà ở của người Dao cũng rất phong phú, tuỳ nhóm mà ở nhà trệt hay nửa sàn, nửa đất. Loại nhà nửa sàn nửa đất là loại kiến trúc nhà cửa của riêng người Dao, gắn liền với cuộc sống du canh du cư trước đây. Điều đặc biệt là toàn bộ ngôi nhà của người Dao đều được làm bằng tranh tre nứa lá, không có một chút gạch ngói. 8 cột cái trong nhà được làm bằng những cây gỗ quí, có tuổi rất già 80-90 năm. Mỗi lần chuyển nhà, họ có thể bỏ phên, tranh tre nứa lá còn những cột cái bằng gỗ quí có sức bền với thời gian thì họ chuyên chở đi để làm ngôi nhà nơi ở mới.
          Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
           Họ tộc:
          Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
           Sinh đẻ:
            Dưới chế độ cũ, ở người Dao nạn "hữu sinh vô dưỡng" hoặc hiếm con rất phổ biến, nên sinh đẻ là điều mong ước chính đáng của những người đã thành vợ thành chồng. Nhưng trước đây, ở miền núi nói chung, ở vùng đồng bào Dao nói riêng hầu như không có bệnh viện, trạm xá, vì vậy việc sinh đẻ đều do mỗi người, mỗi gia đình tự lo liệu, chăm sóc lấy. Ngoài việc biết chạy chữa bằng một số vị thuốc lá, rễ cây cổ truyền, đồng bào chỉ còn cách tổ chức cũng lễ để tổ tiên, thần thánh phù hộ cho việc sinh đẻ và nuôi nấng con được tốt lành. Và tuỳ theo từng nhóm Dao, tuỳ từng địa phương mà người có thai (có khi cả những người trong gia đình, nhất là người chồng) có những tục kiêng kỵ khác nhau để tránh cái xấu có thể xảy ra đối với bản thân hoặc đối với những người và những vật xung quanh: người có thai kiêng đến những chỗ đặt bàn thờ, nhất là bàn thờ tổ tiên; kiêng tiếp xúc với thầy cúng thầy tào; kiêng vào những nơi để hạt giống, để rượu, kiêng trèo cây, hái quả; cả hai vợ chồng không được buộc lạt, không ăn thịt rùa, thịt diều hâu, thịt thú bị hổ bắt... Đồng bào cho rằng một năm kiêng sáu thứ nên khi người phụ nữ có thai vào những tháng nào thì trong những tháng đó họ đều phải ăn kiêng: tháng giêng, tháng bảy, hồn thai ở cửa chính "thất chỏi muần chìn", kiêng không đào đất, không sửa chữa động đến cửa chính; tháng hai, tháng tám hồn thai ở giữa sân "nhị sết chỏi tồng thình", kiêng không đào đất, không đốt lửa, không đặt những vật nặng vào sân; tháng ba, tháng chín, hồn thai ở cối giã gạo "phạm chùa chỏi tòi tạp", kiêng không di chuyển cối; tháng tư, tháng mười hồn thai ở bếp "phỉa chiệp chỏi dua tòng", kiêng không giội nước lã vào bếp: tháng năm, tháng mười một hồn thai ở trong buồng "hửng chiệp đất chỏi tồng tào", kiêng không chữa, không động mạnh buồng của người thai nghén; tháng sáu, tháng mười hai, hồn thai ở bụng mẹ "lụa chiệp nhậy chỏi puốn diền", kiêng không nhúng quần áo người thai nghén vào nước sôi.
Người Dao đẻ ngồi và đẻ ngay trong buồng ngủ, không được đẻ ở nơi khác. Chồng, mẹ chồng đỡ hộ hoặc sản phụ tự đỡ lấy, rất ít khi nhờ người ngoài đỡ giúp. Khi đứa trẻ lọt lòng mẹ, người ta chờ khi nào nó khóc mới bế lên, tắm rửa bằng nước nóng. Nếu đứa bé chưa khóc, người ta thường lấy sách cúng quạt cho nó, tin rằng làm như vậy đứa trẻ sẽ khóc được và sau này đứa trẻ được đặt tên là "Sách" (Slâu). Người ta cắt rốn bằng dao nứa và cho rau vào trong cái sọt gác lên cành cây hoặc cho vào ống nứa đem lên rừng chôn ở nơi khô ráo, làm như vậy, theo quan niệm của đồng bào đứa bé mới được mát mẻ, khoẻ mạnh. Cuống rốn được sấy khô, để làm thuốc chữa bệnh. Ngay từ sau khi đẻ, người sản phụ được ăn các thức ăn nấu với gừng và rượu. Người ta còn cho sản phụ ăn nhiều cơm nếp, thịt gà, giò lợn nấu lẫn với các vị thuốc bổ (thường là cây thuốc hái ở rừng). Khi nhà có người đẻ, người ta treo cành lá xanh hay cái hoa chuối trước cửa làm dấu cấm cữ để mọi người biết không vào nhà, nhất là những người sắp làm dám "chẩu đàng" (Bàn vương), cấp sắc "tẩu slai" hoặc sắp làm các nghi lễ lớn khác. Nếu chưa kịp làm dấu mà đã có người trót vào nhà và nếu người ấy là đàn ông thì người đó phải nhận đứa trẻ làm con nuôi và đứa trẻ được đặt tên là "Khách". Nhưng nói chung người ta không muốn người ngoài, nhất là khách lạ, vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng xấu đến đứa trẻ. Người trong gia đình kiêng tới những nơi thờ cúng "linh thiêng", ít tiếp xúc với người ngoài vì sợ hồn vía độc ở ngoài sẽ theo về làm hại đứa trẻ. Ngược lại, người ngoài cũng không muốn đến nhà có người đẻ đang độ cấm cữ vì họ cho đó là nơi "không sạch", có thể ảnh hưởng xấu đến mình, nhất là các thầy mo, thầy cúng thì sợ ảnh hưởng xấu đến pháp thuật. Riêng ở nhóm Dao quần trắng, người lạ và bà con trong thôn xóm có thể đến thăm hỏi người đẻ.
          Sản phụ, khi có nhiều sữa kiêng vắt sữa xuống tro bếp, người ta tin rằng làm như vậy sẽ bị tro "hút" hết sữa, sợ "mẹ sữa" phật ý làm mất sữa. Sản phụ kiêng đến các nơi thờ cúng, không ra gian nhà ngoài, không ngồi cạnh bếp nấu ăn hay bếp khách. Nếu sản phụ cần đi lại thì qua cửa phụ ở phía sau. Tã lót và quần của sản phụ chỉ được phơi ở chỗ khuất, nhất thiết không được phơi phía trước nhà.
          Khi đẻ sinh đôi, nếu là một trai một gái, đồng bào thường làm lễ "hợp cẩn" giả cho hai đứa trẻ, và họ tin rằng làm như vậy mới nuôi được cả hai. Những đứa trẻ khi lọt lòng mẹ có tràng hoa quấn cổ thì cho là khó nuôi và muốn để cho dễ nuôi, đứa trẻ ấy phải gọi ông bà là bố mẹ và gọi bố mẹ là anh chị, tuy nhiên không phải nhóm nào cũng có tục lệ này. Trước đây, người Dao còn có tệ tục là khi đứa con lọt lòng mà không quay mặt về phía người mẹ thì cho là điềm xấu phải cúng bái rất nhiều mới dám nuôi, có người bỏ không nuôi; nếu đứa bé lại còn phun nước bọt nữa thì bị bỏ hẳn. Trẻ sơ sinh qúa ốm yếu thì người ta đặt tên cho trẻ ấy rồi ghi vào mảnh giấy nhỏ đem "gửi" vào một hốc đá nào đó, sau này đứa trẻ sẽ gọi hòn đá ấy là bố và tên thường ngày của nó sẽ được gọi là "Thạch". Cũng có thể họ nhờ một thầy cúng đứng ra "bảo lãnh" cho đứa bé, nhận đứa bé làm con nuôi.
          Trẻ sơ sinh được ba ngày thì gia đình lập đàn cúng mụ gọi là lầm lễ "nam han". Người ta thường mổ một lợn, một gà, một vịt để cúng tạ ơn bà mụ ở động Đào - hoa Lâm-châu đã “cho" họ đứa trẻ và cầu mong ở mụ sự phù hộ lâu dài. Mỗi khi làm lễ phải mời hai thầy cúng, một người cúng hồn đứa trẻ, một người cúng hồn người mẹ, nhưng cả hai đều cầu mong ma mụ phù hộ cho người mẹ và đứa con. Cúng xong, bố đứa trẻ bưng một khay rượu đến trước thầy cúng và khách dự lễ, lạy mỗi người bốn lạy để tạ ơn. Trừ thầy cúng, còn khách đến dự đều mừng tiền cho chủ nhà (thường là vài hào bạc trắng)
ở nhóm Dao quần trắng, khi làm lễ cúng ma mụ đồng bào phải chọn "ngày tốt". Khi cúng người ta làm lễ dâng hoa. Con gái dâng hoa màu đỏ, con trai dâng hoa màu trắng; hoa bằng giấy và gắn vào các que nứa được đặt trên chiếc yếm của phụ nữ đang dệt dở. Đồng bào tin rằng làm lễ "dâng hoa" là để
bà Chúa hoa hay bà mụ mải mê với hoa và các vật cúng khác mà không đến quấy rầy đứa trẻ.
          Đồng bào Dao chăm sóc trẻ sơ sinh khá chu đáo. Hằng ngày đồng bào thường tắm rửa cho đứa trẻ bằng nước đun với lá cây có hương thơm, cho trẻ ăn mật ong...

Đăng nhận xét

[blogger]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.